Hiển thị các bài đăng có nhãn báo chí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn báo chí. Hiển thị tất cả bài đăng

1 tháng 9, 2010

VEDAN “PHÂY PHÂY” TỪ HAI NĂM NAY RỒI!

Chiều thứ hai 9/8/2010, Tổng giám đốc Vedan Yang Kun Hsiang bất ngờ chấp nhận 100% yêu cầu bồi thường của mỗi địa phương. Có phải đây là bàn thắng vào “phút 89” của công lý và rằng Vedan phải “chịu phép”? Dẫu sao, thì Vedan đã được giải hạn, để từ nay yên ổn “phây phây” như từ 2 năm qua.

Trong buổi tọa đàm chiều thứ tư 4/8 về “những vấn đề pháp lý quanh vụ kiện Vedan”, hầu hết các ý kiến của các luật sư lá băn khoăn không rõ “Vedan sẽ chịu bồi thường bao nhiêu?”. Có ý kiến cho rằng nếu Vedan chịu bồi thường 80% so với yêu cầu, thì cũng được rồi, còn hơn là để vụ kiện kéo dài cù kưa, để lâu…hóa bùn. Riêng một ý kiến không phải của giới luật sư, của một người quen theo dõi, đọc báo nước ngoài, đoan chắc rằng số tiền mà các địa phuơng yêu cầu bồi thuờng…là “con số lẻ” so với tập đòan Vedan. “Số lẻ” ở chỗ điều mà Vedan lo sợ nhất là bị xử lý hình sự vụ gây ô nhiễm sông Thị Vải, song điều này đã không xảy ra, Vedan đã “tai qua nạn khỏi” từ lâu rồi. Còn chuyện Vedan-Việt Nam có giở trò cù cưa, thì do đó là bản chất “giang hồ quốc tế” của tập đòan Vedan này và rằng một xếp lớn của Vedan – Việt Nam đã từng có tiền án, tiền sự trong lĩnh vực này.

“VEDAN CHẲNG HỀ HẤN GÌ TỪ CÁC XỬ PHẠT CỦA VIỆT NAM ”!

Chiều 19/9/2008, Vedan –Việt Nam chính thức thừa nhận sai phạm và ký vào biên bản thừa nhận hành vi của mình. Bộ Tài nguyên môi trường khẳng định vi phạm của Vedan rơi vào khung hình phạt cao nhất. Cục Quản lý tài nguyên nước sẽ ra quyết định đình chỉ giấy phép xả nước thải công nghiệp của Vedan. Đồng thời sẽ tiến hành xử phạt hành chính cơ quan này theo luật định, với mức phạt có thể lên tới 500 triệu đồng (mức cao nhất) và chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra.Về phần mình, Cục Cảnh sát Môi trường cho biêt cũng đang xem xét việc truy tố hình sự đối với vi phạm của Công ty Vedan. Cơ quan Công an sẽ xem xét trách nhiệm của những người liên quan trong vụ việc này.

Ai cũng ngỡ rằng chuyến nàyVedan sẽ “te tua” vì án phạt. Ít ai biết rằng chỉ ba tuần sau, hãng tin tài chính Bloomberg 10/10/2008 loan một “tin mừng” từ phía Vedan: ” Vedan International Holdings Ltd, một nhà sản xuất phụ gia thực phẩm có tên trên thị trường chứng khoán Hong Kong, cho biết (Vedan) không sợ rằng một lệnh buộc phải nộp phạt và phí tẩy rửa một con sông bị ô nhiễm từ phía Việt Nam sẽ có tác động cụ thể đến hoạt động của Vedan” . Hãng tin Bloomberg, khi loan tin này cho độc giả là các nhà đầu tư tòan thế giới, đã trích báo cáo của tâp đoàn Vedan International Holdings Ltd, tức Vedan “mẹ”, với cơ quan chứng khoán Hong Kong về vụ tai biến tại Việt Nam.

Giải thích này của Vedan “mẹ” là tối cần thiết do lẽ cổ phiếu Vedan được niêm yết trên thị trường chứng khóan Hong Kong, nhằm trấn an các nhà đầu tư ở sàn chứng khoán Hong Kong về mức độ tai biến của Vedan tại Việt Nam để họ quyết định giữ lại cổ phiếu Vedan thay vì “buông”. Mẩu tin của Bloomberg kết thúc bằng một kết cuộc rất có hậu:” Vedan International (tức Vedan “mẹ”) cho biết Vietnam-Việt Nam không bị truy tố gì (hình sự)”.

XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG TRÊN CẢ TUYỆT VỜI!

Có thể thấy, trong vụ này, đối với Vedan, có hai vấn đề phải giải quyết:
1/ vấn đề pháp lý với nhà chức trách Việt Nam sao cho hình phạt càng “nhẹ” càng tốt
2/ xử lý cuộc khủng hỏang dư luận trên sàn chứng khóan Hong Kong, làm sao trấn an tuyệt đối các nhà đầu tư chứng khóan đừng “bỏ của chạy lấy người” để cho cổ phiếu của Vedan đừng phải tuột giá hoặc biến thành tờ giấy lộn. Nếu các cổ đông rần rần “buông” cổ phiếu Vedan, thì Vedan sẽ phá sản ở Hồng Kông.

Mẩu tin trên của Bloombeg cho thấy Vedan đã xử lý khủng hỏang cả về mặt pháp lý (ở Việt Nam) lẫn dư luận quần chúng (ở sàn chứng khóan Hong Kong) một cách rất chuyên nghiệp đạt hiệu quả tối ưu.

Chỉ ba tuần sau khi bị bắt quả tang phải ký thừa nhận sai phạm, Vedan đã có thể an tòan ra khỏi khủng hỏang và “bình chân như vại”. Bộ Tài nguyên Môi trường chỉ đề xuất xử phạt Vedan 216 triệu đồng và truy thu 127 tỷ đồng phí môi trường đã "trốn" nộp trong nhiều năm qua. Những biện pháp bắt buộc khác như phải cải tạo toàn bộ hệ thống thu gom, xử lý nước thải đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về chất thải theo quy định, hệ thống thu gom và cửa xả nước thải phải được đặt ở vị trí thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát…. chỉ thuộc lĩnh vực kỹ thuật mà thôi. Ngòai ra, Vedan không bị truy tố gì khác nữa cả về mặt hính sự. Đó là lý do khiến Vedan “mẹ” đã có thể ung dung bố cáo hôm 10/10/2008:” Vedan International (tức Vedan “mẹ”) cho biết Vietnam- không bị truy tố gì (hình sự)”. Và hãng tin Bloomberg chạy tít:” “Vedan chẳng hề hấn gì với các xử phạt của Việt Nam”!

Đứng trong góc độ quản lý doanh nghịệp và chuyên nghành PR, đây là một trường hợp xử lý khủng hoảng “chuyển bại thành thắng” đáng nể! Chỉ với một khoản đóng phạt, “truy nộp” phí môi trường còn “quỵt” là 127 tỷ đồng là có thể thoát khỏi nguy cơ của một vụ án huỷ hoại môi trường, để vẫn “phây phây” họat động, doanh thu tài chính 2009 thành đạt hơn năm trước. Trong thông báo gửi cho Ủy ban chứng khóan Hong Kong, Vedan không hề tự khoe mình đã hủy họai sông Thị Vải…Nên chẳng ai biết được thành tích bất hảo phá họai môi trường ở VN của Vedan. Uy tín của Vedan International vẹn tòan trên trường quốc tế vốn tối kỵ những vi phạm môi trường.

“GIANG HỒ QUỐC TẾ”.

Có lẽ ít ai, ngọai trừ các quan chức tiếp quản hồ sơ đăng ký kinh doanh, sản xuất của Vedan, biết được rằng Vedan “mẹ” là một “giang hồ quốc tế”. Khi nhiều luật sư cứ ngỡ rằng Vedan (mẹ” và”con”) là một công ty Đài Loan, thì trong thực tế Vedan “mẹ” lại là một công ty đăng ký họat động trên nhóm đảo Cayman với cái tên Vedan International (Holdings) Limited, song cổ phiếu thì niêm yết trên thị trường chứng khóan Hong Kong.
Tại sao Vedan “mẹ” lập công ty trên nhóm đảo Cayman? Lãnh thổ hải ngọai này của Vuong quốc Anh, khét tiếng là một “thiên đường” thuế khóa và rửa tiền với hơn 93.000 công ty, trong đó có 300 ngân hàng, 800 công ty bảo hiểm và 10.000 quỹ hưu bổng tuơng tế . Vedan còn là một “thiên đường” mở tài khoản tẩu tán tài sản trong các ngân hàng “mở”. Mở công ty, mở tài khoản tại “thiên đường” Cayman, làm ăn ở đâu trên thế giới, có trời mới biết thực hư tài chính ra sao!
Trong số các lãnh đạo Vedan- Vietnam vào năm 2006 , Chủ tịch Wang Joel J đã được hãng thông tin tài chính chứng khóan SFC Enforcment Reporter ghi nhận là đã bị tuyên là có tội và bị phạt 5000$ cùng nộp chi phí đìeu tra do vi phạm cả với SEHK (Cơ quan chứng khoan Hong Kong) lẫn tập đòan Vedan International (Holdings) về vấn đề chi trả cổ tức của tập đòan này.

Một khi đã biết Vedan “hình hài” thế đó, sẽ dễ hiểu Vedan là gì, làm gì, như thế nào ở VN từ muơi mất năm qua và từ đây cùng mãi mãi.

**************
Thay lời kết,

Tai đã qua nạn đã khỏi cho Vedan, một số nông dân sẽ được bồi thừong, Vedan-Vietnam nay sẽ yên ổn làm ăn, thời hiệu kiện tụng cũng hết rồi, và phát tài nhất so với các thị trường khác (biểu đồ). Báo cáo kết quả tài chính (tính đến hết ngày 31-12-2009) của Vedan với các cổ đông của mình nêu rõ: doanh thu năm 2009 của đơn vị này là 289 triệu USD, lãi trước thuế 71 triệu USD (làm tròn), tức lãi hơn năm 2008, lãi trước thuế chỉ 64,5 triệu USD(xem bảng biểu cuối bài), cho dù có bị sự cố.

Còn sông Thị Vải, hy vọng sẽ tự gột rửa được những ô nhiễm đã từng bóp nghẹt dòng sông này…chứ không đến nỗi phải cần đến cả một kế họach cải tạo mà các nhà khoa học đã vò đầu bứt tai bàn bạc trong một cuộc họp ít lâu sau vụ Vedan bị bắt quả tang. Tháng 4 năm ngoóai, BT Môi trường đã chẳng đến chứng giám các sửa sai của Vedan và sự “hồi sinh” của sông Thị Vải rồi hay sao? Khắp các bào đều loan tin hồ hởi phấn khởi này, đăng bức ảnh anh ngư dân ôm con cá to tổ chảng khoe:” Ngày hôm nay dzầy là kiếm được 500.000 đồng rồi”!
Lo làm chi khi mà sông Thị Vải đã hồi sinh nhanh đến chóng mặt! Mới 19/2/2009, còn “ngâm cứu”, hai tháng sau báo chí đã báo tin vui: "Sông Thị Vải đã hồi sinh"

@Thiên Triều
01.9.2010.

21 tháng 5, 2010

Báo chí Việt Nam đưa tin về tham nhũng như thế nào? Làm thế nào để nâng cao chất lượng đưa tin của báo chí?

Cũng như ở nhiều nền kinh tế đang phát triển nhanh, tham nhũng tồn tại ở tất cả các cấp quản lý nhà nước là một vấn đề tồn tại ở Việt Nam. Trên thực tế, cuộc đấu tranh chống tham nhũng đã trở thành một trong những ưu tiên cao nhất của Chính phủ Việt Nam kể từ giữa thập niên 90 vì nó đe dọa uy tín và sự sống còn của chế độ. Do vậy, việc bóc trần những hành vi tham nhũng được nhà nước chính thức khuyến khích, hoan nghênh. Tuy nhiên, trên thực tế, việc phát hiện, bóc trần tham nhũng dường như mới đang là một nỗ lực có tính dè chừng. "Bộ công cụ" được sử dụng trong cuộc đấu tranh này khá đa dạng, từ việc tự phê bình của những cán bộ bị phát hiện là có tham gia vào những hành vi tham nhũng, đến việc lập ra các cơ quan trung ương (như Thanh tra Chính phủ và Ban Chỉ đạo Chống tham nhũng) với nhiệm vụ phát hiện tình trạng ăn hối lộ và kỷ luật những người bị phát giác là có tội. Thông tin đại chúng cũng là một trong những công cụ này. Báo chí của Việt Nam do nhà nước quản lý toàn bộ hay một phần, song lại được giao nhiệm vụ phát hiện tham nhũng trong chính phủ - một nhiệm vụ đòi hỏi phải có sự độc lập đáng kể và ở các nước khác thường do báo chí ngoài quốc doanh đảm nhiệm. Hệ quả là, những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc mở rộng quyền tự do biên tập đang diễn ra theo một cách khá đặc biệt.

Trong suốt những năm 2000 tự do báo chí được nới rộng, song năm 2008 lại chứng kiến điều mà nhiều nhà quan sát gọi là “sự đảo ngược” trong tự do báo chí. Năm 2008, hai nhà báo đã đưa tin về một vụ tham nhũng cấp cao đã bị bắt, và ít nhất bảy nhà báo khác (phóng viên kỳ cựu và tổng biên tập) bị rút quyền hành nghề. Ngày 31.12, hai tổng biên tập báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ, hai tờ báo đi đầu trong đấu tranh phòng chống tham nhũng cũng phải rời khỏi chức vụ của mình. Các cuộc trao đổi với các nhà báo cho thấy phần lớn vẫn cảm thấy yên tâm trong khuôn khổ của nhà nước, và tiếp tục chỉ đưa tin về những câu chuyện mà họ hoặc tổng biên tập của họ đã được phép trước. Tuy nhiên, một số ít những người làm nghề báo hiện nay tin rằng nhiệm vụ của họ là phải vạch trần tham nhũng, và càng ngày họ càng muốn phớt lờ những “hướng dẫn” trong việc đưa tin mà nhà nước đề ra khi họ viết bài. Song do đưa tin điều tra là một lĩnh vực còn mới mẻ ở Việt Nam, nên những người hành nghề thường thiếu những kỹ năng cần thiết và nguồn lực để làm tốt việc phơi bày các vụ việc tham nhũng. Có thể nói mặc dù viết báo chống tham nhũng có tăng – và có lẽ tăng đáng kể - cả về phạm vi và số lượng, song chất lượng của bài viết thường còn rất kém. Quyền năng – báo chí có thể nêu tên và chỉ đích danh người bị liên quan mà ít khi có đính chính cho những người bị ảnh hưởng, và sự yếu kém của báo chí (trong đó nghiệp vụ báo chí yếu kém đồng nghĩa với khả năng báo chí có thể sử dụng quyền năng đó một cách không đúng đắn) làm dấy lên mối quan ngại của nhà nước – chủ thể quản lý báo chí hiện nay, và của cả những người mà giới báo chí tiếp xúc khi tìm hiểu về một vụ việc nào đó.

Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu năm cơ quan báo chí khác nhau, từ tổ chức có tính điều tra rất cao (theo chuẩn mực của Việt Nam) đến tổ chức hoàn toàn nằm trong sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã hoạt động như thế nào trong việc đưa tin chống tham nhũng trong hai năm 2006 và 2007. Nghiên cứu có sử dụng ba nguồn dữ liệu đó là tài liệu nghiên cứu, phỏng vấn và phân tích nội dung báo chí để phân tích việc đưa tin và tìm hiểu xem các nhà báo làm việc như thế nào trong lĩnh vực còn mới mẻ và rất nhạy cảm này. Nghiên cứu rút ra những phát hiện như sau: Hoạt động đưa tin bài về tham nhũng của báo chí trong giai đoạn nói trên khá mạnh và có tầm bao quát rộng. Báo chí Việt Nam hoạt động khá mạnh trong việc đưa tin chống tham nhũng, bao gồm phơi bày những vụ việc mới, theo dõi hành động của Chính phủ và dành chỗ cho công luận đưa ra ý kiến tranh luận về tham nhũng. Tuy nhiên, bất chấp kỳ vọng được tập trung vào khía cạnh đầu tiên nhắc tới ở trên là phơi bày tham nhũng, và mặc dù nhiều người tin rằng báo chí đang tích cực bóc trần tham nhũng, quá trình phân tích nội dung các tin bài được đưa cho thấy việc đưa tin phần lớn tập trung vào khía cạnh thứ hai là theo dõi.


Các bài báo tập trung vào vấn đề tham nhũng ở cấp tỉnh hoặc địa phương tỏ ra khá „an toàn‟, song những bài báo về vấn đề tham nhũng ở cấp cao thường bị kiểm duyệt kỹ hơn và/hoặc bị trả đũa. Viết bài chống tham nhũng, đặc biệt là các vụ tham nhũng cỡ trung hay cỡ lớn được thực hiện bởi một số ít các tờ báo ở các thành phố lớn, và trong những tờ báo đó, thường tập trung vào một nhóm nhỏ các nhà báo có uy tín. Công việc của họ rất phức tạp do có nhiều yếu tố khó khăn, ví dụ như thiếu khả năng tiếp cận với nguồn tin đáng tin cậy, nghiệp vụ báo chí kém (tuy ngày càng được cải thiện), và hiểu biết yếu kém về những vấn đề đạo đức nghề nghiệp xung quanh công việc viết báo chống tham nhũng.1 Những vấn đề liên quan đến tiếp cận thông tin làm cho các lợi ích chính trị và kinh doanh dễ dàng thao túng báo chí, vì việc tiết lộ thông tin của những giới này có thế là một sự dàn xếp kịch bản mà các nhà báo không biết tới. Bằng việc công bố những thông tin đó, các nhà báo vô tình trở thành „bia đỡ đạn‟, hoặc rơi vào cuộc chiến giành quyền lực, và tin bài của họ nhất định sẽ bị thiên vị. Mặc dù rõ ràng là nguy hiểm, song việc thao túng báo chí của những người có quyền thế ít nhất cũng sẽ đảm bảo rằng có ai đó luôn muốn hỗ trợ cho công việc của giới báo chí bằng cách cung cấp thông tin về tham nhũng. Những vấn đề khác cản trở việc thông tin trên báo chí bao gồm những hạn chế về chính trị, pháp luật và biên tập, những điều này hạn chế nội dung mà các nhà báo có thể viết và đe dọa trừng phạt nếu có nhà báo nào bước quá ranh giới biên tập vốn không rõ ràng. Những ranh giới này, và nguy cơ bị trừng phạt treo lơ lửng trên đó khá là mơ hồ, đủ để tạo ra nỗi e ngại trong giới báo chí, song cho đến gần đây những ranh giới đó cũng đủ mơ hồ để tạo điều kiện cho một số nhà báo quá năng nổ có hành vi thao túng. Những người được phỏng vấn trong nghiên cứu này cho rằng sự thao túng đó, đôi khi vượt ra ngoài giới hạn được phép đưa tin, sẽ trở lại một khi ảnh hưởng của sự trấn áp đối với báo chí trong năm 2008 đã lắng xuống. Nếu xem xét những thay đổi kể từ thập niên 1990, thì nghiệp vụ của các nhà báo đang ngày càng được nâng cao, nguồn lực dồi dào hơn, và tự do báo chí cũng được nới rộng hơn. Tuy nhiên, sự tiến bộ khiêm tốn đó bị cản trở bởi cách tiếp cận đối với tự do hóa báo chí lúc thế này, lúc thế khác. Dựa trên những phát hiện được nêu trên, báo cáo này đưa ra một số khuyến nghị như sau:

1/ Khung pháp lý phức tạp của Việt Nam cần phải được làm rõ để cho các nhà báo nhận thức được đầy đủ những giới hạn cho việc tác nghiệp của họ, và chế tài sẽ được áp dụng nếu những giới hạn đó bị vi phạm.

2/ Việc tiếp cận và sử dụng thông tin cần phải được cải thiện để các nhà báo bớt phụ thuộc vào những nguồn tin có thể làm cho họ bị lạc hướng hoặc có thông tin sai lệch một cách cố tình (hoặc theo một cách nào đó), để họ có thể nhận định một cách dễ dàng hơn về tính chính xác, tin cậy của thông tin do các nguồn đó cung cấp. Tiếp cận thông tin tốt hơn sẽ tạo điều kiện cho những trách nhiệm thông tin báo chí cơ bản như kiểm chứng sự kiện, một việc mà hiện nay đã được chứng minh là hết sức khó khăn.

3/ Nghiệp vụ và tiêu chuẩn đạo đức nghề báo cần phải nâng cao để tạo điều kiện đưa tin chống tham nhũng nhiều hơn và có chất lượng cao hơn. Nếu chất lượng được cải thiện thì sẽ bớt đi những mối lo ngại về việc báo chí có thể ám chỉ sai hoặc làm tổn hại đến uy tín của những cán bộ, công chức chí công vô tư, đồng thời sự phản đối việc đưa tin về tham nhũng trên báo chí cũng sẽ giảm đi.

4/ Cần cải cách tiền lương và quản lý tài chính cũng như đào tạo để cho phép các cơ quan thông tấn báo chí có thể nâng lương và giảm xác suất tham nhũng ngay trong cơ quan báo chí. Tiền lương eo hẹp là một yếu tố có thể làm làm xói mòn những nỗ lực chống tham nhũng của báo chí chừng nào nó còn tồn tại.

5/ Tự do hóa công tác biên tập báo chí sẽ rất khó thực hiện được, song đây là điều kiện tiên quyết để báo chí có thể đưa tin về tham nhũng một cách hiệu quả. Việc này không nhất thiết phải đi đôi với sở hữu tư nhân. Trên thực tế, nhiều người trong giới báo chí Việt Nam và các nhà quan sát bên ngoài đã lập luận rằng sở hữu tư nhân không hẳn sẽ tạo điều kiện cải thiện việc đưa tin về tham nhũng trong bối cảnh Việt Nam.

(Trích "Tóm tắt tổng quan" nghiên cứu "Báo chí và tham nhũng: Báo chí Việt Nam đưa tin về tham nhũng như thế nào? Làm thế nào để nâng cao chất lượng đưa tin của báo chí?" của Catherine Mc Kinley tháng 1/2009 thuộc Loạt bài nghiên cứu chính sách Cải cách hành chính chống tham nhũng của UNDP tại Việt Nam. Xem toàn văn và chi tiết của nghiên cứu trên tại đây.)