Hiển thị các bài đăng có nhãn Bien Dong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bien Dong. Hiển thị tất cả bài đăng

10 tháng 7, 2011

Đúng 40 năm trước, Kissinger sang Tàu: Cảnh cũ, người xưa.


Cách đây đúng 40 năm, hôm thứ sáu 9/7/1971, tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Mỹ Richard Nixon, đã lần đầu tiên đặt chân đến Bắc Kinh. Chuyến đi bí mật này đã mở cửa Trung Quốc và là bệ phóng đưa Trung Quốc trở thành đại cường. "Henry Kissinger là môt nhân vật gây tranh cãi", trang tiểu sử về ông của Wikipedia nhận xét.

Cảnh cũ, người xưa.

Tháng 6 vừa qua, sự kiện "Kissinger sang Tàu" (mượn cách nói của báo chí Sài Gòn xưa) đã hai lần được đánh dấu. Trước hết bởi chính bản thân tiến sĩ Kissinger với quyển biên khảo kiêm hồi ký ”Về Trung quốc” (On China) của ông vừa được xuất bản. Kế đến bởi Nhà nước Trung Quốc với một hội thảo hôm thứ hai 27/6, long trọng "kỷ niệm 40 năm chuyến viếng thăm Trung Quốc đầu tiên" của ông này.

Tân Hoa Xã (1) cho biết trước hơn 100 nhà ngoại giao và học giả đã dự hội thảo kỷ niệm sứ mạng đã dọn đường cho những quan hệ làm mới giữa TQ và Mỹ, TS Kissinger phát biểu: "Thật là xúc động đối với tôi khi lại ở trong tòa nhà này, ngôi nhà TQ đầu tiên của tôi". Tòa nhà đó chính là nhà khách chính phủ Điếu ngư đài, một trong 10 dinh thự vĩ đại được xây dựng năm 1959 tại Bắc Kinh nhằm đánh dấu 10 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trong số các công trình kiến trúc để đời khác, phải kể đến những địa chỉ quen thuộc như Đại sảnh đường nhân dân TQ, Cung văn hóa các dân tộc, Viện bảo tàng quốc gia, Viện bảo tàng quân sự cách mạng, sân vận động Công nhân, nhà ga xe lửa Bắc Kinh..., thảy do Viện thiết kế kiến trúc Bắc Kinh tạo dáng.

Tất nhiên, TS Kissinger đã không bồi hồi xúc động vì cái dinh thự với khuôn viên giả cổ ấy, mà vì nhớ lại mình đã “tái lập tiếp xúc với một đất nước nằm ở trung tâm lịch sử châu Á mà nước Mỹ đã không có quan hệ cấp cao trong suốt 20 năm trước đó”. Những hoài niệm đầy tự hào của TS Kissinger thật dễ hiểu: Là một chính khách chuyên nghiệp khởi đầu cho trường phái Realpoltik bất cần những khuôn sáo trói buộc mang tính chất lý tưởng, ý thức hệ, đạo đức..., chỉ cần đạt đến kết quả mong muốn, thành hay bại cũng đều thiết thân, huống hồ là thành đạt ngoài sức tưởng tượng.

40 NĂM SAU

Thật vậy, người đồng cấp với cố vấn Kissinger ngày nay là Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc nhắc lại: "40 năm trước, các nhà lãnh đạo TQ Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã nắm tay các ông Nixon và Kissinger mở cánh cửa quan hệ Trung-Mỹ. Điều đó đã đánh dấu sự khởi đầu của một chương mới trong việc cải thiện và phát triển quan hệ Trung-Mỹ, và đã có tác động vô cùng tích cực và lớn lao đến quan hệ hai nước".

Không dừng ở hoài niệm, người giữ vai trò cố vấn ngoại giao hiện nay của Nhà nước TQ, khi nhắc lại công lao của TS Kissinger 40 năm trước, đã nhắc nhở những người kế vị ông Kissinger ngày nay ở Washington về nhiệm vụ 40 năm sau: "Cả hai nước nên ghi nhớ các nỗ lực của nhiều thế hệ lãnh đạo và nhà ngoại giao để mà giải quyết quan hệ Trung-Mỹ từ nhãn quan chiến lược và dài hạn”.

Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy, ông Nixon thì đã ra người thiên cổ rồi, còn mỗi ông Kissinger; may chăng ở cấp dưới hơn, còn ông Winston Lord, khi xưa là trợ lý của ông Kissinger. Thôi thì noi gương TS Kissinger đây vậy!

NHỮNG KHUYÊN BẢO CUỐI ĐỜI CỦA TS KISSINGER!

Gương gì? Gương trung kiên với quan hệ Trung-Mỹ. Ở tuổi 88 sắp cưỡi hạc, TS Kissinger vẫn còn trịnh trọng khuyến cáo: "Ngay cả khi có khó khăn trong quan hệ của chúng ta, cái tinh thần, vốn đã đưa chúng ta đến cùng nhau, sẽ dẫn đường cho hành động của chúng ta trong tương lai. TQ và Mỹ đã hợp tác với nhau trong 40 năm qua. Tôi hy vọng rằng đó mới chỉ là sự khởi đầu cho một sự hợp tác lớn hơn nữa”. Ít ai trân trọng quan hệ với Trung Quốc cho bằng TS Kissinger!

Sau bản tin đầu tiên hôm thứ hai 27/6 của Tân Hoa Xã, sang đến thứ ba 28/6, Kenneth Rapoza của tờ Forbes của Mỹ viết: "Mỹ và TQ không tranh nhau thống trị thế giới. Cạnh tranh kiểu đó chẳng có ý nghĩa gì cả”, tuyên bố của cựu ngoại trưởng Henry Kissinger được tờ China Daily hôm nay thứ ba trích lại. Về vấn đề biển Nam Hải (tức biển Đông của VN), ông Kissinger tuyên bố tự do hàng hải trong khu vực này, mà Mỹ cho là có lợi ích quốc gia trong đó, là một vấn đề riêng rẽ tách biệt hoàn toàn với các tranh cãi lãnh thổ giữa các nước trong khu vực. Ông
Kissinger nhắc nhở: "Lợi ích tiên quyết của Mỹ là quan hệ tốt với TQ chớ không phải là gây khó khăn với TQ, và rằng Mỹ đừng kích động Philippines và Viet Nam". (2)

CON CHÁU CHẲNG NGHE.

Cùng thời khắc đó, ở Washington, Thượng viện Mỹ thông qua nghị quyết của hai nghị sĩ Jim Webb (đảng Dân chủ) và James Inhofe (đảng Cộng hòa) đưa ra, được các nghị sĩ Joseph Lieberman và Daniel Inouye đồng bảo trợ.Nghị quyết này:

1- Tái khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ đối với một giải pháp hòa bình đối với tranh chấp chủ quyền vùng biển tại Biển Đông. Cam kết tiếp tục những nỗ lực nhằm tạo thuận lợi cho quá trình đa phương, hòa bình nhằm giải quyết các tranh chấp này.

2- Phê phán việc sử dụng vũ lực bởi tàu hải quân và hải giám Trung Quốc tại Biển Đông.

3- Kêu gọi tất cả các bên liên quan đến tranh chấp lãnh thổ kiềm chế việc đe dọa sử dụng vũ lực nhằm khẳng định các tuyên bố chủ quyền của mình.

4- Ủng hộ việc tiếp tục hoạt động của lực lượng vũ trang Mỹ nhằm hỗ trợ quyền tự do hàng hải trong vùng biển và không phận quốc tế tại Biển Đông.

Nghị sĩ Jim Webb còn nhấn mạnh rằng nghị quyết này là “bước phát triển quan trọng nhằm thúc đẩy giải pháp đa phương cho các tranh chấp lãnh thổ một cách hòa bình, tôn trọng chủ quyền của tất cả các bên tuyên bố chủ quyền”.

Rõ ràng, Thượng nghị viện Mỹ của năm 2011 không chịu nghe lời dặn dò của vị cố vấn an ninh và ngoại trưởng Mỹ năm 1971. Họ có cái lý của họ, những người phải chịu trách nhiệm về sự sống còn của nước Mỹ năm 2011. Sự sống còn đó khác của nước Mỹ năm 2011 khác với sự sống còn của nước Mỹ năm 1971 là làm sao ra khỏi cuộc chiến tranh VN "trong danh dự", tức là làm sao đường hoàng đưa binh sĩ Mỹ ra khỏi VN, kết thúc cuộc chiến tranh của nước Mỹ....mà không phải kéo cờ trắng đầu hàng.

Thật ra, TS Kissinger cũng không "một trăm phần trăm" tán dương TQ. Trước khi lên đường sang Bắc Kinh dự kỷ niệm 40 năm chuyến thăm TQ lần đầu, trong môt hội thảo tai Canada, ông Kissinger cũng đã không thể không buông một khuyến cáo thẳng thắn: "TQ cần học tự kềm chế đôi chút trong cách thức yêu sách các lợi ích của mình trên thế giới" (3) - Nhân dân nhật báo Anh ngữ 24/6/2011 trích đăng.

THIÊN TRIỀU

(1) Seminar in Beijing marks 40th anniversary of Kissinger's first China visit, English.news.cn 2011-06-27
(2) Kissinger: US-China Not Competing for World Domination, By KENNETH RAPOZA Jun. 28 2011
(3) Henry Kissinger: China won't be next 'superpower' , By People's Daily June 24, 2011

16 tháng 6, 2011

TÀU TRUNG QUỐC XÂM PHẠM VIÊT NAM: CẦN LÀM GÌ? TƯ VẤN CỦA GS CARL THAYER.

Kiên trì theo dõi xuyên mọi động thái của Trung Quốc là Giáo sư Carlyle A. Thayer. Ngày 29/5/2011, sau vụ tàu “Bình Minh 2”, ông đã đưa ra nhiều phân tích cùng khuyến cáo. Trong các ngày 1/6, 2/6, 4/6, 7/6, 9/6, 10/6 sau đó, ông còn liên tiếp đưa ra các khuyến cáo mới.

HỎI: Ông bình luận gì về việc TQ mới xâm phạm chủ quyền của VN?

GS Thayer: Sự cố này… tiếp sau sự cố vào tháng 3 với tàu khảo sát của Philippines, dường như TQ đang tăng tốc nhấn mạnh rằng biển Đông là trong thẩm quyền pháp lý của họ và rằng TQ đang “quản lý” biển Đông. Các hành động này của TQ đi ngược với tinh thần Tuyên bố ứng xử trên biển Đông (DOC) và cho thấy TQ sẽ chẳng tiến đến một thỏa thuận thực thi DOC, chớ đừng nói là thương thuyết một Qui tắc ứng xử (COC).

HỎI: Đã từng có nhiều xung đột trong vùng biển tranh chấp. Phản ứng thích hợp của VN là gì để duy trì chủ quyền của mình trong vùng đặc quyền kinh tế của mình?

GS Thayer: Hành động của TQ lần này là chưa có tiền lệ. VN cần thận trọng hành động và tránh khiêu khích TQ. Tuy nhiên, trong trường hợp này VN nênquay phim lại các sự cố rồi chiếu lên truyền hình, cung cấp các bản sao cho báo chí và ngoại giao đoàn. VN cần chuẩn bị một sách lược thông tin thật tốt. Vụ việc này đòi hỏi VN nỗ lực hơn nữa trong việc theo dõi vùng đặc quyền kinh tế của mình và hộ tống các tàu khảo sát nghĩa là gia tăng tuần tra bằng không quân. Về lâu dài, Việt Nam cần mua tàu thủy và máy bay tuần thám để theo dõi vùng đặc quyền kinh tế của mình.

HỎI: Trong mọi cuộc họp với ASEAN, TQ đã hứa không làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông, song TQ đã cho thấy không thực hiện đều đó. Ông giải thích sao về những hành động mới đây của TQ?

GS Thayer: Tôi được biết rằng vào tháng 8 năm ngoái (2010), Bắc Kinh đã xem xét lại vấn đề Biển Đông và đã đề ra một chính sách mới. TQ nay sẽ liên tục khẳng định chủ quyền của họ một cách đều đặn cứ như thể đó là một điều hiển nhiên…TQ hành động cứ như thể TQ thực sự có thảm quyền pháp lý trên biển Đông, rằng luật pháp quốc tế là về phía họ…. Sách lược đó sẽ khiến bên khiếu nại phải gia tăng phản kháng và thu hút sự chú ý về phía họ. TQ tính toán rằng làm như thế họ sẽ tỏ ra là một nhân tố ôn hòa, trái ngược với hình ảnh gây rối của các nước phản kháng. TQ cũng mong sẽ phá vỡ sự gắn bó của các nước ASEAN bên bờ biển Đông bằng cách chia rẽ các nước này…. với một lập trường xác quyết lãnh thổ như thế, như thể đây là “vấn đề của VN”. Một số nước có thể sẽ cảm thấy tốt hơn là không đối đầu với TQ, một số khác cảm thấy nhượng bộ thì tốt hơn. VN thì trông mong nơi một Indonesia còn đang giữ chức chủ tịch ASEAN trong sáu tháng tới, TQ thì muốn câu giờ đơi cho đến khi Campuchia rồi thì Brunei và Myanmar đảm mhậm chức vụ này

HỎI: TQ đã tăng cường hạm đội tuần tiễu, tiếp tục tấn công ngư dân VN, gây tổn thất cho một tàu thăm dò của PetroVietnam. Liệu TQ sẽ còn có thêm những hành động nhằm gia tăng yêu sách Biển Đông của họ?

GS Thayer: Đúng thế. TQ đã nhất quyết xây dựng không đắn đo một hạm đội hiện đại kèm trực thăng. Càng xây dựng như thế, càng quá sức chịu đựng của các nước Việt Nam, Malaysia và Philippines, nhằm khiến cho các nước Đông Nam Á này phải tháo lui để tránh đối đầu.

HỎI: TQ có thể tung một cuộc tấn công chớp nhoáng nhằm chiếm một số đảo VN hay Philippines đang trấn giữ không? Lúc đó, Mỹ sẽ làm gì?

GS Thayer: Trong lúc này, không thể tin được rằng TQ sẽ tấn chiếm như thế, do lẽ đó sẽ là một hành vi xâm lược quả tang, sẽ khiến các nước ASEAN cùng những nước ủng hộ, Mỹ, Nhật, Hàn quốc, Úc, Ấn Độ đoàn kết lại chống lại TQ. Các hành động xâm lược của TQ sẽ chỉ khiến cho nội vụ được quốc tế hóa trong mọi diễn đàn an ninh đa phương ở châu Á Thái Bình dương. Điều đó sẽ là một bước lùi to lớn cho khẩu hiệu TQ hài hòa với thế giới. Mỹ không có nghĩa vụ hiệp ước với VN nên sẽ không trực tiếp can dự bảo vệ VN. Song Mỹ sẽ sử dụng các phuơng tiện ngoại giao để đối phó với TQ. Mỹ và Philippines là đồng minh qua hiệp ước an ninh hỗ tương. Chính phủ mới ở Philippines tỏ ra muốn đảm đương trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ và hợp tác với Mỹ. Chính sách của Mỹ dường như nhằm xây dựng năng lực cho quân đội Philippines hơn là đóng một vai trò trực tiếp. Thành ra các nghĩa vụ hiệp định ấy sẽ bị thử thách nếu như TQ tấn công quân sự tàu chiến hay máy bay quân sự của Philippines.

HỎI: VN có thể làm gì để tự bảo vệ nếu như TQ cứ tiếp tục dấn thêm gây hấn?

GS Thayer: VN nên triển khai chiến thuật đan xen tàu của mình giữa các tàu cá của TQ với các tàu khảo sát của mình. VN nên nghĩ đến việc gia tăng khả năng tuần tra để có thể tiên liệu được tàu TQ sắp làm gì để đáp ứng thích nghi. Song, VN cần tự kiềm chế không nổ súng trước. Điều đó sẽ làm phân tán những chú ý quan tâm của công luận vào việc TQ (tự ý) khẳng định chủ quyền của họ. Thực tế là VN đang hành động trong “vùng nội thủy thông thương” của mình, còn TQ thì ở bên ngoài “vùng nội thủy thông thương” của họ. VN có thể phái một lực lượng tàu thủy, tàu bay lớn hơn để bảo vệ tàu của mình. Có thể đặt hỏa tiễn đối hạm trên các đảo của mình để ngăn ngừa tàu TQ.

HỎI: VN nên làm gì để đối đầu với cuộc xâm lược của TQ?

GS Thayer: VN nên liên tục phán kháng ngoại giao với chính phủ TQ. Điều đó sẽ không làm thay đổi hành vi của TQ song là một biện pháp trả đũa cần thiết đối với các hành động của TQ. Nếu VN không làm gì cả trong khuôn khổ luật pháp quốc tế, mọi vệc sẽ bị xem như “đã xong rồi”. VN nên nêu vấn đề này ở mọi cấp thích hợp với chính phủ TQ, kể các các nhóm công tác hỗn hợp và cấp nguyên thủ nhà nước hay lãnh đạo đảng. VN phải tiến hành một sách lược thông tin công và tư nhằm giúp các nước trong khu vực cùng các nước thân hữu được thông tin đầy đủ. Ưu tiên là tranh thủ được hậu thuẫn của mọi nước ASEAN. VN cần vạch kế hoạch theo dõi tuần tra vùng đặc quyền kinh tế của mình, cải thiện liên lạc giữa tàu thăm dò trên biển và các cơ quan thẩm quyền trên bờ. Nhằm tránh leo thang xung đột, VN cần phát triển một lực lượng dân sự hay bán quân sự có chức trách chấp pháp chủ quyền của mình trong vùng đặc quyền kinh tế.VN nên thông báo cho TQ hay rằng tàu thăm dò của mình luôn được hộ tống. Khi xảy ra sự cố, hay có thể xảy ra, VN nên tung máy bay tuần tiễu ra biển. Mọi sự cố đều phải đuợc ghi hình và phổ biến rộng rãi.

HỎI (sau vụ “Viking2”): Phản ứng của ông trước việc TQ liên tiếp quấy phá, đặc biệt chỉ ít ngày sau khi BTQP TQ hô hào duy trì hòa bình trên biển Đông tại đối thoại Shangri-La?

GS Thayer: Một lần mà thôi thì gọi là “sự cố”, hai lần thì gọi là “vấn đề”. Vụ việc thứ nhì này cho thấy rõ rằng đang nổi lên một vấn đề thật rõ rệt là TQ đã quyêt định manh động xác lập chủ quyền của mình trên biển Đông. Đó là một hành động khiêu khích dứt khoát nhằm cô lập và làm VN run sợ, nhắm đến một sự xa cách giữa VN và các nước ASEAN khác. Nếu VN phản ứng quá liều, thì sẽ bị xem như là “vấn đề” chứ không phải là nạn nhân.

Hỏi: Ông có nghĩ rằng chiến thuật này của TQ sẽ thành công hay sẽ không đem lại kết quả mong đợi?

GS THAYER: TQ chẳng có cơ sở nào trong pháp lý quốc tế để đòi thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh tế vốn chỉ có thể được phép đòi từ đất liền mà thôi. TQ lấn chiếm một sồ mỏm đá trên biển Đông, và đó chẳng hề là cơ sở gì chiếu theo UNCLOS về việc yêu sách vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. Trong thực tế, Trung quốc đang đòi chủ quyền trên mọi mỏm đá trên biển Đông cùng biển lân cận. TQ còn cho rằng luật pháp TQ cho mình quyền tài phán trên suốt biển Đông. Chiến thuật này của TQ sẽ chẳng đạt kết quả mong muốn, do lẽ, nếu được để yên muốn làm gì thì làm, TQ sẽ bành bá trên toàn biển Đông, sẽ kiển soát mọi tuyến hàng hải hoặc giao thương. Thế nhưng một khi TQ hành động xác quyết chủ quyền như thế, các hành động đó cxủa TQ sẽ khiến cho vấn đề biển Đông chắc chắn được nẹu ra tại hội nghị các ngoại trưởng ASEAN và Diễn đàn an ninh ARF tháng 7 tới.

Hỏi: Làm thế nào để một chính sách ngoại giao hòa bình sẽ hiệu quả?

GS Thayer: Vào lúc này TQ sử dụng tàu dân sự chớ không sử dụng tàu quân sự. Điều đó gây khó cho VN trong việc bảo vệ các tàu dân sự thăm dò của mình. VN cần dốc hết các nỗ lực hòa bình bằng không TQ sẽ đổ thừa rằng VN mới chính là vấn đề. Song, ngoại giao cần được kèm theo bởi quyết tâm bảo vệ chủ quyền của mình. VN cần phải hộ tống các tàu thăm dò của mình để bảo vệ an toàn cho chúng. Đó là một ván bài cân não.

THIÊN TRIỀU
(trích lược từ Thayer Consultancy 29/5 và 9/6/2011)


14 tháng 6, 2011

MẸC, BM, KEN…SẼ KHÔNG CÒN NẾU MẤT BIỂN KHƠI!

Trong những ngày này, có thể thấy rõ lực lượng xâm lấn, quấy phá vùng biển và đặc quyền kinh tế của Việt Nam có ưu thế cả về số lượng lẫn chất lượng. Không cần đợi có những khuyến cáo như của GS Carl Thayer về việc mua sắm tàu bè, tàu bay tuần thám trên biển để dự liệu trước đối phương sẽ giở trò ở đâu mà chuẩn bị lực lượng ứng phó, bất cứ ai cũng cảm thấy đang thiếu gì và cần gì.

Trong khi đó, có khá nhiều thứ dư thừa như xe hơi, rượu, bia… xa xỉ phẩm, dư đến thừa mứa làm lệch hẳn cán cân xuất nhập khẩu. Thừa đến nỗi đường sá chật những chiếc xe bẩy chỗ to đùng, gọi là mua để cho gia đình nội ngoại cùng đi…, song thực tế chỉ một hai người trên xe, để rồi đường sá vốn đã chật chội càng thêm hẹp, càng nhiều “chấm” , uống xăng như rồng hút nước, càng bảnh. Nghịch cảnh so với ở Pháp khi xe chỉ bốn chỗ, dung tích máy nhỏ để còn có chỗ đậu cho dù người ta thu nhập hơn gấp 40 lần! Một nước còn nghèo rớt mùng tơi, GDP/đầu người năm 2010, theo IMF, chỉ được 1.174USD, đứng vào hàng thứ 142, mà lại đi nhập khẩu đến 200 triệu lít bia “ken”, chỉ sau Mỹ, Pháp là hai nước có GDP/đầu người nhiều hơn gấp 40 lần hơn! Trên các trang web nghe nhìn, những cặp loa “khủng” giá năm, sáu trăm triệu không phải là hiếm…!Thậm chí có một “đấng” nổi danh chơi hàng “hi-end”, loa, ampli cỡ nào cũng có…Loa Lowther toàn dải mua về vất đó!

Chưa rõ có bao nhiêu người chính đáng kiếm ra tiền, tạo công ăn việc làm cho người khác, thu ngoại tệ về cho đất nước được bao nhiêu, song có thể ngờ rằng có khá nhiều kẻ hái ra tiền chẳng từ sản xuất, buôn bán, kinh doanh…, đích thực mà từ “nước bọt”, và hậu quả là nhập siêu hàng xa xỉ từ đầu năm đến giờ cũng trên tỷ đôla!

Có người tự cho là khôn ngoan bảo “Trứng chọi đá! Để tan nát cả à? Tôi chẳng dây vào làm gì!”.Than ôi, nếu lỡ dại có mệnh hệ gì, biển đảo mất, liệu có còn dầu hoả, cá mú để xuất khẩu mà nhập siêu hay không? Lúc đó, Mẹc, BM, Ken có còn hay không?

THIÊN TRIỀU


12 tháng 6, 2011

TỰ LỘT MẶT NẠ!


Hai vụ xâm phạm liên tiếp trong vòng một tuần vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và tấn công cắt cáp tàu khảo sát của Việt Nam cho thấy đây không chỉ là những va chạm “dân sự” với lớp vỏ tàu “hải giám" như có thể nghĩ hoặc những hành động thăm dò “nắn gân”, mà là những hành động “càn quét” trên biển Đông, những thao tác “lùng và hủy phá” để thực thi cái mà Trung quốc tự gọi là chủ quyền trong “vùng lưỡi bò” trên biển Đông, theo một kế hoạch, một mệnh lệnh rõ rệt.

Những hành đông đó hoàn toàn chà đạp công ước UNCLOS 1982 mà Trung quốc đã ký kết. Qua các hành động này, Trung quốc cho thấy đã xem việc Trung quốc cũng như Việt Nam và mọi nước khác như Phippines, Malaysia nôp khai báo về các giới hạn bên ngoài thềm lục địa mỗi nước, chiếu điều 76, chương 8 UNCLOS, vào tháng 5/2009, là vô nghĩa! Trong khi Liên hiệp quốc mới chỉ nhận hồ sơ, đâu đã phán quyết gì, mà Trung quốc đã “tự cấp” cho mình thẩm quyền độc nhất trong và bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế mới chỉ khai báo đăng ký, thì đó chính là một sự chà đạp công pháp quốc tế vô cùng! Có thể thấy Trung quốc tự đặt mình lên trên tất cả, cả Liện hiệp quốc lẫn luật biển cùng các nước ASEAN liên quan.

Các vụ vi phạm UNCLOS bạo ngược và bạo hành xâm phạm chủ quyền đó cũng cho thấy thế nào là giá trị của các tuyên bố của các quan chức cùng các ký kết của nhà đương cục Trung quốc. Tuyên bố của BTQP Trung quốc hôm chủ nhật 5/6 mới đây ở Đối thoại Shangri-La như “Trung Quốc cam kết duy trì hòa bình và ổn định trên biển Đông…, giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và pháp lý bằng các phương pháp hòa bình, qua tham khảo và đàm phán hữu nghị giữa các nước có chủ quyền liên can trực tiếp”. Chẳng qua, BTQP Trung quốc đã chỉ “nói để mà nói’, bằng cớ là ông đã vờ vịt cho rằng “biển Đông đang là ổn định” và ông đã là diễn giả sử dụng từ ngữ “hòa bình” nhiểu nhất: 35 lần trong bài diễn văn của ông! Những hành động lấn phá liên tiếp của Trung quốc cho thấy Việt Nam cùng các nước ASEAN liên quan đang đứng trước một “đối tác đối thoại” mà lời nói, chữ ký cùng cam kết bị vô hiệu hóa bởi chính chủ nhân của chúng, thay vào đó là một thế lực đang giở mọi thủ đoạn để tiên hạ thủ vi cường, bất chấp dư luận quốc tế từ mọi phía trong những ngày qua có vạch rõ các âm mưu đó.

Đây là giờ phút của sự thật, các “mặt nạ” đang tự rơi ra. Dân gian vẫn nói “bất quá tam”.Không thể không dứt khoát nhận ra rằng “nói chuyện” như đã từng “nói chuyện” bao lần trước chỉ là “nước đổ lá môn” và hậu quả sẽ là khôn lường! Đây cũng là giờ phút của những trái tim nóng bơm máu tiếp tế cho những cái đầu lạnh đang cần tỉnh táo nhận chân từng biện pháp, từng bước, từng hành động “trả lời” đúng liều lượng, đúng nơi, đúng lúc. Bảo vệ chủ quyến với những kẻ trí trá không thể đơn giản bằng cảm tính cùng những hò hét cũng không phải là những “trò chơi chính chị, chính em” vô bổ, vô ích và “đâm sau lưng chiến sĩ”!

THIÊN TRIỀU


28 tháng 5, 2011

TRƯỜNG SA, BÂY GIỜ HOẶC MÃI MÃI CHẲNG BAO GIỜ NỮA.




Tình hình Biển đông trong hai tháng qua cho thấy những kẻ tự nhận là chủ nhân của “đường lưỡi bò” đang ra sức “quấy rối” các nước khác với mục đích “nắn gân” xem phản ứng mỗi “khổ chủ” như thế nào.

Việc ba tàu gọi là “hải giám” của Trung quốc “quấy rối” tàu khảo sát địa chấn của Việt Nam vào hạ tuần tháng 5/2011 này không khác gì vụ hai chiếc tàu “hải giám” cùng loại “quấy rối” một chiếc tàu khảo cứu của Philippines vào hạ tuần tháng trước. Chính phủ Philippines đã ra lệnh cho không quân nước này phái ngay hai máy bay đến khu vực xảy ra sự cố, hai chiếc “hải giám” nọ phải bỏ đi. Sau vụ đó, chính phủ Philippines còn đệ đơn kiện UNCLOS .

Một tháng rưỡi sau, kịch bản “quấy rối’ này lại được giở ra với những “miếng” tương tự, và lần này nhắm vào một tàu khảo sát địa chấn của Việt Nam, với một lực lượng đông hơn.

Có thể thấy qua hai hành động liên tiếp một sự thăm dò phản ứng, từ đó sẽ biết có thể “chọc thủng” ở đâu, trong khoảng thời gian bao lâu, sẽ gặp hay không gặp phải phản ứng, và phản ứng, nếu có, sẽ từ đâu, như thế nào, nhanh hay chậm, dứt khoát hay chần chờ hoặc nửa vời, sẽ có phản ứng “dây chuyền” không hay chỉ độc một mình “khổ chủ”… Từ đó, sẽ nhanh chóng ra tay...

Cũng có thể, trong cảnh tranh tối, tranh sáng của một Lybia đang đi đến hồi cáo chung, “thoải mái” vượt xa khuôn khổ hai nghị quyết 1970 và 1973, chẳng bị “ai” khiếu nại cả, như các trường hợp Iran, CHDCND Triều Tiên, một hành động tiên hạ thủ vi cường sẽ được đưa ra trong sự thinh lặng đồng lõa.

Nay là lúc cảnh giác, dứt khoát, quyết liệt nhất bằng không sẽ là quá muộn, có ra bờ Biển Đông khóc cũng vô phương. Nghe chăng Trường Sa đang kêu gào:

It's now or never, (Bây giờ hoặc chẳng bao giờ)
come hold me tight (Hãy ghì chặt ta)
Kiss me my darling, (Hãy hôn ta, người yêu dấu hỡi,)
be mine tonight (Hãy là của ta đêm nay)
Tomorrow will be too late (Ngày mai sẽ là quá muộn màng).

THIÊN TRIỀU

29 tháng 4, 2011

Giấc mơ tàu sân bay của Trung Quốc.






Website quốc phòng strategypage.com hôm thứ hai (18/4) cho biết tàu sân bay “Shi Lang” của Trung Quốc vừa được lắp đợt vũ khí đầu tiên gồm tên lửa chống tên lửa FL-3000N. Cùng lúc usnews.com loan tin tư lệnh quân lực Mỹ tại Thái Bình Dương Robert Willard, đã nhẹ nhàng nhận xét trước tiểu ban quân vụ Thượng viện Mỹ: “Hải quân Trung Quốc không tỏ ra hung hãn bằng năm ngoái tuy vẫn đeo bám tàu chúng ta như hình với bóng…”. Hiểu thế nào về sự xuất hiện của tàu sân bay “Shi Lang”trên Thái Bình Dương?

Việc hải quân Trung Quốc chọn việc lắp đặt hệ thống tên lửa FL-3000 để phô diễn “sức mạnh tác chiến tương lai” của tàu sân bay “Shi Lang” của mình không khó hiểu. Một tàu sân bay, trước khi có thể tung ra “quả đấm thép ” là các máy bay của mình “đánh đấm’ được ai, phải sống sót trước các cuộc đột kích của đối phương trước đã; và ở thời đại tên lửa này, muốn sống còn, phải trị được tên lửa. Trong cuộc chiến Falklands/Malvinas năm 1982 giữa Anh và Argentina, khu trục hạm “Sheffield” đã chìm sau khi trúng phải một tên lửa đối hạm Exocet của Argentina do Pháp sản xuất, bắn đi từ một chiến đấu cơ Etendard của không quân Argentina mua lại cũng của Pháp. 30 năm sau, khi chiếc “Shi Lang” sắp ra khơi, kỹ thuật tên lửa đối hạm đã tiến xa hơn quả Exocet nọ đến đâu!

Thế nhưng, stategypage. com lại không đánh giá cao tên lửa FL-3000 này của TQ, chê là không linh hoạt, chính xác và có tầm bắn không xa bằng tên lửa RAM của Mỹ. Nghĩa là chiếc “Shi Lang” có vẻ oai vệ đấy, song để sống còn, còn phải cố gắng nhiều, nhất là khi chiếc này cũng chỉ là một chiếc “Varyag” thời Liên Xô cũ, mới chỉ đóng xong cái xác, chưa lắp máy, hệ thống điện, điện tử gì cả, được Ukraine bán “sắt vụn’ cho một công ty khai là có trụ sở ở Ma cao tên Chong Lot năm 1992 với giá 20 triệu USD để cải tạo thành một sòng bạc nổi, và với cam kết là “không đưa vào sử dụng cho mục đích quân sự”. Sau khi Macao trở về với TQ, chiếc tàu sân bay “sắt vụn” cũng “sang tay” qua hải quân TQ, website chuyên theo dõi chiếc “Varyag” là varyagworld.com cho biết!


Từ 1999 đến nay, chiếc “Shi Lang” được cải tạo thành…tàu sân bay. Năm tới “Shi Lang” sẽ xuất hành với động cơ diesel “cổ điển” giữa thời đại hạt nhân mà chiếc tầu sân bay đầu tiên là chiếc “Enterprise” đã hạ thủy từ năm 1961, còn chiếc “Charles De Gaulle” của Pháp cũng đã hạ thủy cách đây 10 năm! Chiếc “Shi Lang” có “chạy hết tốc độ cũng chỉ “hít khói” tàu sân bay Mỹ (20 hải lý/giờ so với 30 hải lý), bất quá làm tàu huấn luyện là cùng . Thảo nào đô đốc Robert Willard chỉ huy bộ tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ gọi đây chỉ là một mối “đe dọa tượng trưng” !

GIẤC MƠ “BIỂN XANH”.

Thật ra Trung Quốc đâu phải là nước châu Á đầu tiên có tàu sân bay. Lác đác cũng đã có vài nước châu Á đang sử dụng tàu sân bay như Ấn Độ với chiếc “Viraat” từ năm 1987 (mua lại của Anh) hoặc đang tự đóng như chiếc ‘Vikrant”, sẽ đưa vào sử dụng năm tới cùng với chiếc “Vikramaditya” (mua lại của Ukraine), hay Thái Lan đang sử dụng chiếc “Chakri Naruebet” từ năm 1997 (mua lại của Tây Ban Nha) chuyên chở trực thăng và máy bay có cánh lên thẳng (VTOL). Cuộc chạy đua sắm tàu sân bay đã bắt đầu với việc Ấn Độ “tậu” tàu sân bay, khiến Thái Lan, vốn cùng ngó ra Ấn Độ Dương, cũng phải ráng đua theo. Thành ra, sự xuất hiện của chiếc “Shilang” năm tới cũng tạo ra một số “cảm nhận” khác nhau nơi các nước…


Thật ra, việc hải quân một nước vươn xa ra đại dương là môt tất yếu bắt buộc, nhất là khi đối diện với biển, chưa nói đến việc nước đó thiếu tài nguyên, phải thu gom nguyên, nhiên liệu từ xa về mà xài, hoặc có tham vọng bành trướng. Hải quân Mỹ giải thích lý do sử dụng tàu sân bay như sau: "Kinh tế và an ninh chúng ta tùy thuộc vào việc chúng ta bảo vệ các lợi ích của chúng ta ở hải ngoại cũng như hòa bình và ổn định trên thế giới. Cựu Bộ trưởng quốc phòng William Cohen thời Clinton đã từng nói: "Nếu không vươn ra xa được, sẽ ít có tiếng nói hơn, ít có ảnh hưởng hơn” . Đó là điều mà nước Nhật đã làm cách đây 81 năm khi đưa vào sử dụng chiếc tàu sân bay đầu tiên của cả thế giới, chứ không chỉ của Nhât, là chiếc “Hosho” (hạ thủy năm 1921), vào ngày 27/12/1922.

HẢI QUÂN NHẬT THẾ KỶ TRƯỚC.


Đóng tàu sân bay là một chuyện, sử dụng thành thạo như là một vũ khí chiến lược, tác chiến hữu hiệu trong đội hình một hải đội, và cất cánh bay đắnh trúng mục tiêu… lại là một chuyện khác. Người Nhật của những năm 1930 đã phát triển thật nhanh lực lượng tàu sân bay phục vụ chiến lược bành trướng của mình. Cuối tháng 1, đầu tháng 2/1932, cùng với việc thôn tính Mãn Châu, hải quân Nhật đưa hai chiếc tàu sân bay “Kaga” (có thể chở đến 80 máy bay) và “Hosho” (36 máy bay) đến tấn công Thượng Hải, bảo vệ 7.000 quân Nhật đang bị lộ quân 19 của Tưởng thống chế bao vây, trong khi chờ đợi lữ đoàn 24 và sư đoàn 9 bộ binh đến tiếp cứu vào giữa tháng 2 . Những chiếc máy bay Nhật cùng hai chiếc tàu sân bay “Kaga” và “Hosho” này sẽ hằn sâu vào trong “bộ nhớ phục thù” của người Trung Quốc.


Cứ thế, hải quân Nhật đã phát triển lực lượng tàu sân bay đến mức chín năm sau đã có thể vươn đến tận Hawai, đánh phủ đầu hải quân Mỹ ở Trân Châu Cảng. Vào ngày 7/12/1941 ấy, Nhật đã có đến sáu tàu sân bay hạng nặng cùng hàng chục tàu sân bay hạng nhẹ, thuộc các lớp Unryu, Taiyo, Shinano, Taiho, Hiyo, Shokaku, Soryu, Ryujo, Akagi và Kaga. Tạm lấy chiếc tàu sân bay đầu tiên, chiếc “Hosho”, tức còn chưa “hung thần”như các chiếc sau này, làm thí dụ: chiếc này chở theo 36 máy bay gồm 12 thám thính, 12 chiến đấu, 12 thả bom , đếm đầu máy bay còn nhiều hơn chiếc “Chakri Naruebet” hiện tại của hải quân hoàng gia Thái ! Trong suốt sáu tháng đầu tiên sau cuộc đột kích Trân Châu Cảng, tàu sân bay cùng hạm đội Nhật “ung dung” làm chủ Thái Bình Dương, thậm chí đến sát cảng Darwin của Úc.


HẢI CHIẾN TÀU SÂN BAY TRÊN THÁI BÌNH DƯƠNG.



Hôm 7/12/1941, tàu sân bay Nhât đã “làm mưa làm gió” tung máy bay ra đánh chìm gần hết hạm đội 7 của Mỹ ở Trân Châu Cảng. May mắn thay cho hải quân Mỹ là hôm đó, không một tàu sân bay nào của Mỹ neo ở Trân Châu cảng. Chiếc “Enterprise” hôm sau mới cặp bến, nên thoát nạn, để rồi trở thành cái sườn cho lực lượng tàu sân bay của Mỹ sẽ phục hận tàu sân bay Nhật chỉ năm tháng sau.

Bắt đầu là trận Biển San hô về phía đông Tân Guinea ngày 7-8/5/1942. Nhật lúc đó định chiếm cảng Moresby ở phía Nam Tân Guinea bằng hai hải đội trong đó có hai tàu sân bay hạng nặng Shokaku và Zuikaku cùng một tàu sân bay hạng nhẹ và nhiều tàu chiến khác. Hải quân Mỹ có hai tàu sân bay cùng khá nhiều máy bay từ đất liền cât cánh. Một tàu sân bay Mỹ chìm, chiếc kia hư hỏng nặng. Nhật chỉ mất một tàu sân bay hạng nhẹ, song cuộc đổ bộ chiếm cảng Moresby bất thành. Hai chiếc Shokaku và Zuikaku bị hư hỏng nặng đến nỗi phải vắng mặt ở trận Midway quyết định sau đó, bằng không cán cân lực lượng sẽ nghiêng hẳn về phía Nhật. Trận Midway bốn tuẩn sau đó, từ 4 đến 7/6/1942, Mỹ lừa đánh chìm được 4 tàu sân bay của Nhật khi các chiếc này đã gọi hết máy bay về, chỉ mất mỗi 1 chiếc “Yorktown”.

Sau trận Midway, lực lượng Nhật suy giảm sẽ không chịu nổi 4 trận đụng độ tàu sân bay khác, không còn làm chỗ dựa cho bộ binh Nhật phòng thủ nữa. Ngược lại, tàu sân bay Mỹ đóng vai trò làm bàn đạp cho thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ tái chiếm Thái Bình Dương. Chính vai trò này của tàu sân bay sẽ được các nhà binh pháp các nước ghi nhớ để biện luận cho mọi kế hoạch tàu sân bay hay ngược lại cảnh giác phòng ngừa hoặc khiếp vía không đánh đã buông súng.


TÀU SÂN BAY “SHI LANG”


80 năm sau ngày hai tàu sân bay “Kaga” và “Soho” của Nhật khơi khơi đánh phá Thượng Hải, nay mới đến lượt người Trung Quốc rờ vào chiếc tàu sân bay đầu tiên. Tàu sân bay không là một cái gì mới, song mỗi chiếc có những hoàn cảnh đặc thù của nó. Nội dung bất di, bất dịch của các cuốn phim võ thuật, hành động TQ, “ngộ sẽ báo thù”, sẽ có chỗ trong mối hận lòng Thượng Hải 80 năm trước bị bắn phá bởi tảu sân bay Nhật, tiếp theo mối hận thất thủ Bắc Kinh năm 1900 trước liên quân Âu-Mỹ sau vụ nổi loạn của giới võ lâm Trung Quốc (quyền phỉ) và hiêp ước Shimonoseki sau vụ bại trân năm 1895 buộc Trung Quốc phải nhượng các đảo Pescadorses, Đài Loan, cảng Arthur cho Nhật. Trăm năm sau, nay người TQ đã phục thù được trên mặt trận kinh tế - tài chính, thế còn trên các mặt trận khác?


Thêm vào đó là giấc mơ “đổi đời” lên hàng cường quốc quân sự, cộng với những nhu cầu duy trì sự phát triển kinh tế. Tất cả sẽ “đồng hành” với chiếc “Shi Lang”? Tên của tàu này rất ý nghĩa. Shi Lang là tên môt đô đốc Shi Lang đã có công thu hồi đảo Đài Loan vào Trung Quốc năm 1683.Tất nhiên, chiếc “Shi Lang’ mới chỉ là giấc mơ, phôi thai!

THIÊN TRIỀU

22 tháng 11, 2010

HOÀNG SA 1956, KHI “ĐƯỜNG LUỠI BÒ” CHƯA RA ĐỜI!

(Chú thích ảnh: Lính thủy đánh bộ Trung Quốc tập đổ bộ lên đảo
Chigua Skerry trong dải Trường Sa ngày 24.4.2010)


Việc Cục Đo đạc bản đồ quốc gia Trung Quốc khơi khơi dựng bản đồ trực tuyến Map World thể hiện “đường luỡi bò” bao trùm lên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam, trong một góc nhìn nào đó, chẳng qua là “thuyền lên, nước lên” khi nay đã mạnh vì gạo , bạo vì tiền… Chứ nếu giở lại chuyện cũ năm 1956, khi các tác giả của “đường luỡi bò” còn chưa hoặc mới ra đời, sẽ thấy thế hệ cha chú họ lúc đó còn lén lút mò lên… khu vực Hoàng Sa như những đạo chích.

Cầu cứu từ đảo Pattle

03 giờ 15 phút chiều chủ nhật 10/6/1956, giờ Wagshinton D.C., trợ lý phụ tá ngoại trưởng đặc trách Viễn Đông - Howard P.Jones - đang nghỉ ngơi với gia đình, một cú điện thoại của trực ban Bộ ngoại giao báo tin có một bức điện khẩn cấp từ tòa đại sứ Mỹ tại Saigòn . Bức điện số 4798 đó báo cáo việc Bộ ngoại giao Saigòn mới chuyển qua một bức điện của trạm khí tượng của họ đặt trên đảo Pattle (tên tiếng Việt là đảo Hoàng Sa) trong quần đảo Paracels (Hoàng Sa). Bức điện vỏn vẹn mấy chữ:”Quân Trung Cộng đổ bộ lên đảo Robert (đảo Hữu Nhật). Sinh mạng tất cả chúng tôi bị đe dọa.Xin được di tản ngay”.


Trợ lý phụ tá ngoại trưởng Jones vô ngay văn phòng, liên lạc với phụ tá ngoại trưởng Hoover, và được lênh đến ngay nhà ông này. Một cuộc họp cấp tốc diễn ra vơi Paul Kattenburg của Vụ Đông Nam Á và McAuliffe, trực ban của Bộ, xoay quanh các chi tiết và bối cảnh tình hình. Phụ Tá ngoại trưởng Hoover cho biết rằng đô đốc Burke, tư lệnh hành quân của Hải quân vừa mới ra lênh cho máy bay của hạm đội 7 bay thám thính khu vực nói trên.
Sau cuộc họp bỏ túi này, tất cả cùng đến nhà Ngoại trưởng Dulles họp. Cố vấn pháp lý Phleger và cố vấn chính trị MacArthur được triệu tập. Mac Arthur qua năm sau sẽ sang Nhật làm đại sứ. Thành phần tham dự cuộc họp đủ cao cấp để tin rằng những ý kiến nêu ra hay đề xuất trong cuộc họp này là rất nghiêm túc Ngoại trưởng Dulles cho rằng đây là một sự kiện tối quan trọng buộc Hoa Kỳ phải hành động ngay và hiệu quả. Theo ông, “đây là một chiến dịch thăm dò của Trung Cộng, có quan hệ sinh tử với vấn đề các đảo Kim Môn và Mã Tổ, mà Hoa Kỳ có lợi ích gắn chặt”. Ông chỉ thị cho các cộng sự viên cao cấp tiếp xúc thêm với các lãnh tụ quốc hội (1).

“KỶ NIỆM” KIM MÔN- MÃ TỔ


Điều gì khiến ngoại trưởng Dulles “gắn chặt” vụ Trung quốc đổ bộ lên đảo Hoàng Sa (Pattle) với vụ Kim Môn-Mã Tổ và lợi ích của Hoa kỳ? Năm 1956 ấy, Trung Hoa lục địa và Đài Loan mới vừa ra khỏi cuộc khủng hoảng quân sự Kim Môn và Mã Tổ lần thứ nhất kéo dài từ 11/9/ 1954 đến 1/1955. Hai hòn đảo “quái ác” của Đài Loan chỉ cách bờ biển Đại lục có tám hải lý, tức hoàn toàn trong tầm bắn của pháo binh. Chính sách của Mỹ với Đài Loan những năm 1950 ấy khác hẳn ngày nay. Thoạt đầu, ngày 5/1/1950, Tổng thống Harry Truman loan báo “Hoa kỳ sẽ không can thiệp vào vụ tranh chấp ở eo biển Đài Loan”, tức sẽ không can thiệp khi hai bên đụng độ. Song, chỉ 6 tháng sau, khi chiến tranh Triều Tiên đã bùng nổ hôm 25/6/1950, Tổng thống Truman bèn nói lại: "Trung lập hóa eo biển Đài Loan”, trong thực tế là để bảo vệ Đài Loan. Không chỉ nói suông, Truman đưa hạm đội 7 đến đây án ngữ che chắn cho Đài Loan. Trong mấy năm trời núp bóng hạm đội 7, Tưởng Giới Thạch tập trung được 58.000 quân trên đảo Kim Môn và 15.000 quân trên đảo Mã Tổ trong ý đồ sử dụng hai hòn đảo cận bờ này thành hai pháo đài, đầu cầu đổ bộ cho một mai tái chiếm lục địa. Ngày 17/8/1954, Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố giải phóng Đài Loan. Hai ngày sau, Mỹ "cảnh cáo" “Chớ đụng đến Đài Loan”. Hai tuần sau, vào ngày 3/9/1954, Trung Hoa lục địa bắt đầu pháo kích Kim Môn. Đến tháng 11 thì sử dụng đến máy bay để thả bom. Vào thời đó, Trung Quốc đã có một lực lương không quân mạnh: trong chiến tranh Triều Tiên, có lúc đã huy động đến 1830 chiếc, trong đó có đến 1.000 chiến đấu cơ Mig-15 quần thảo ngày này qua ngày khác với các chiếc F-84 của Mỹ. Ngày 2/12, Mỹ và Đài Loan ký hiệp ước phòng thủ hỗ tương. Ngày 20/1/1955, quân đội Trung quóc chiếm hòn đảo nhỏ Yijiangshan sau khi loại khỏi vòng chiến toàn bộ 720 binh sĩ Đài Loan đòn trú ở đây. Ba ngày sau, quốc hội Mỹ thông qua “nghị quyết Đài Loan” cho phép tổng thống Mỹ sử dụng quân đội bảo vệ Đài Loan. Tháng 1 còn lại bẩy ngày, tháng 2 chóng vánh kết thúc, vừa vặn để Trung Quốc thôi pháo kích. Và đến ngày 1/5/1955, thì phía Trung Quốc đơn phương ngưng bắn (2). Mỹ phải vất vả bảo vệ phe Quốc Dân đảng Đài Loan trong cuộc xung đột Kim Môn- Mã Tử là do trong cái nhìn của Mỹ, đây sẽ là một đột phá khẩu vào “phòng tuyến chống cộng” kéo dài từ quần đảo Aleutians, Nhật Bản, Hàn quốc…xuống đến tận Úc, New Zealand (3) .
Vụ khủng hoảng trên giải thích tại sao ngoại trưởng Mỹ Dulles cho rằng việc Trung Quốc đổ bộ lên đảo Pattle (Hoàng Sa) có liên hệ sinh tử đến hai đảo này và lợi ích của Mỹ. Một khi đảo Pattle (Hoàng Sa) rơi vào tay Trung Quốc, pháo đài cực Nam của “Trung Hoa Cộng Sản” (Chicom) sẽ không còn là đảo Hải Nam, mà là Hoàng Sa.


HOÀNG SA, TRƯỜNG SA và HÒA ƯỚC SAN FRANCISCO 1951.


Trong cuộc họp khẩn chiều chủ nhật 10/6/1956 ấy, Ngoại trưởng Mỹ Dulles bảo các cộng sự của mình xem xét khả năng viện dẫn hiệp định kết thúc chiến tranh với Nhât Bản, theo đó Hoa Kỳ có quyền hạn và trách nhiệm kế thừa đối với tất cả các lãnh thổ của Nhật (chiếm đóng) trước đây (4) . Ông cũng chỉ thị các cộng sự của mình xem xét khả năng đơn phương ra tay hành động chiếu theo tinh thần điều 8 hiệp ước SEATO (Liên phòng Đông Nam Á, kiểu như NATO của Đông Nam Á).
Về vấn đề đầu tiên mà Ngoại trưởng Mỹ Dulles nêu, Mỹ kế thừa các lãnh thổ mà Nhật chiếm đóng trước kia, có thể thấy đây là một “thực tế hiển nhiên” như qua phần trả lời của Ngoại trưởng Úc Nigel Hubert Bowen cho câu hỏi của dân biểu Hạ viên Gough Whitlam (qua năm sau sẽ kế vị ngoại trưởng Bowen) trong phiên họp ngày 15/9/1971 (5):
-Dân biểu Whitlam: Nước nào giữ chủ quyền trên quần đảo Spratly (Trường Sa) và Paracels (Hoàng Sa) mà Nhật Bản từ bỏ mọi quyền lợi, chủ quyền cùng yêu sách trong hòa ước San Francisco ngày 8/9/ 1951?
-Ngoại trưởng Bowen: Câu trả lời cho ngài Dân biểu như sau:…Qua hòa ước 1951, Nhật Bản từ bỏ mọi quyền lợi, chủ quyền, yêu sách trên các quần đảo Spratly và Paracels cùng các lãnh thổ khác…Theo điều 3 hòa ước này, Nhật Bản đồng ý đặt các hòn đảo trên dưới sự quản lý của Mỹ.

Khẩn trương tiếp ứng


Trở lại với cuộc họp giải cứu đảo Pattle (Hoàng Sa). Có ý kiến nêu khả năng rủ Philippines tham gia hành động. Ngoại trưởng Dulles bác bỏ mọi đề xuất hãy tham khảo các chính phủ thuộc SEATO, do lẽ Hoa Kỳ phải ra tay nhanh và lãnh trách nhiệm ra tay. Tuy nhiên, tất cả các biện pháp trên chỉ sau khi máy bay thám thính của hạm đội 7 xác nhận nguồn tin từ phía Saigòn và sau khi đã thăm dò đánh giá tính hiệu quả mọi khả năng đã nêu ra (6) . SEATO, tức Liên phòng Đông Nam Á, là một anh em sinh đôi với khối NATO, nhằm chung nhau phòng thủ giữa các nước Đông Nam Á. Điều 8 của hiệp ước Liên phòng Đông Nam Á mà ngoại trưởng Mỹ Dulles viện dẫn làm cơ sở cho một cuộc hành quân tái chiếm đảo Pattle ấn định khu vực phòng thủ như sau: "là khu vực Đông Nam Á nói chung, bao gồm toàn bộ lãnh thổ các nước này, và cả trên Thái bình dương ngoại trừ khu vực từ bắc vĩ tuyến 21o 30’ trở lên”. Với điều 8 này, Mỹ có nhiệm vụ phòng thủ khu vực chung nêu trên với các nước Đông Nam Á khác, thậm chí đơn phương ra tay. Kết thúc cuộc họp, Ngoại trưởng Dulles chỉ thị thảo ngay một công điện cho tòa đại sứ tại Saigòn yêu cầu luôn khẩn cấp cập nhật tình hình và thông báo rằng Hoa kỳ đang xem xét trục xuất bọn Cộng Sản (TQ) ra khỏi các hòn đảo ấy. Trợ lý phụ tá Jones Jones hoàn tất ngay bức điện mang mã số Deptel 4011, cụ thể như sau:
"Các cấp cao nhất của chính phủ đang xem xét khả năng tiến hành các chiến dịch quân sự nhằm quét sạch Cộng Sản ra khỏi khu vực, cả trên đảo Woody lẫn trên đảo Pattle và đảo Robert, nếu đảo này sau này cũng bị tấn công. Mọi quyết định tự hậu sẽ tùy thuộc nơi kết quả các thông tin thám thính của không lực hải quân đã được phép cất cánh từ sáng sớm ngày 11/6” (giờ Saigon).

ĐÀI LOAN VÀ SÀIGÒN PHỐI HƠP TÁI CHIÉM HOÀNG SA?

Ngày hôm sau, thứ hai 11/6, bộ ngoại giao Mỹ gửi tiếp bức điện Deptel 4021 cho tòa đại sứ Mỹ tại Saigòn và tại Đài Loan, cho biết chi tiết hơn về “hai khả năng hành động khả dĩ đang được Washington xem xét trong mục đích tống khứ quân Cộng Sản Trung Hoa khỏi Hoàng Sa” như sau :

"1. Các lực lượng khả dụng của Mỹ trong khu vực sẽ đơn phương hành động buộc Cộng Sản Trung Hoa rút lui sau khi đã dành cho một thời gian cảnh cáo. Về mặt pháp lý, hiện chưa dứt khoát dựa trên điều 8 Hiến chương SEATO hay hiêp định (đầu hàng của) Nhật Bản.
2. Nỗ lực đạt đến môt thoả thuận giữa Trung Hoa Dân Quốc (cách gọi trước đây chỉ Đài Loan) và Saigòn về một hành động hỗn hợp của lực lượng của họ, lực lượng Hoa kỳ sẽ cung cấp tiếp liệu hậu cần khi cần thiết. Trong trường hợp thỏa thuận trên đạt được, hãy đảm bảo sẽ không nảy sinh vấn đề pháp lý nào.
Các tòa đại sứ Mỹ liên quan được yêu cầu đưa ra nhận xét về hai phương án trên, trong tinh thần là “khảo sát thái độ của các chính phủ liên hệ (tức Đài Loan và Saigòn) cùng các chính phủ khác ở châu Á, về tác động của việc sử dụng binh sĩ Mỹ thay vì binh sĩ châu Á, và về khả năng giải quyết vấn đề chủ quyền qua một thỏa hiệp dung hòa giữa Trung hoa Dân quốc (tức Đài Loan) và Việt Nam Cộng hòa”.
Đáp ứng yêu cầu của Bộ ngoại giao Saigòn, hạm đội 7 phái ngay hai tuần dương hạm và một số máy bay thám thính đến khu vực Hoàng Sa. Quân lực Mỹ đã thực hiện các cuộc thám thính trên biển, trên không và cả trên bộ ở đảo Robert trong hai ngày 12/6 và 13/6. Trong bức điện sau đó gửi CINCPAC, tổng tư lệnh quân lực Mỹ tại Thai bình dương, phó đô đốc Ingersoll, tư lệnh hạm đội 7 kiêm tư lệnh bộ chỉ huy lực lượng Mỹ phòng vệ Đài Loan, loan báo các kết quả thám thính: "Thay đổi duy nhất ở Hoàng Sa trong mấy tháng qua chỉ là việc Trung Hoa Cộng Sản tăng nhân sự trên đảo Woody (đảo Phú Lâm)(7). Hoạt động hầu như chỉ là thu gom phân chim. Không thấy binh sĩ hay vũ khí”. Phó đô đốc Ingersoll kết luận: "Trong những điều kiện trên, hiện chưa đến lúc Mỹ phải quét sạch bọn Cộng Sản ra khỏi đảo Phú Lâm…Một nỗ lưc chung giữa Đài Loan và (Nam) Việt Nam cũng không tiện…”.
Bức điện này được sao gửi cho các tòa đại sứ Mỹ trong khu vực để cùng bàn bạc. Đại sứ Mỹ tại Đài Loan Rankin, trong bức điện số 1122, cho biết ông nhất trí vơi các kết luận của đô đốc Ingersoll. Ông cũng lưu ý thêm rằng nếu khuyến khích Đài Loan đơn thân ra tay dọn dẹp khu vực Hoàng Sa, điều đó sẽ có tác đông còn lớn hơn là Mỹ ra tuyên cáo sẽ chống lại sự bành trướng của Cộng Sản Đỏ ở khu vực này.

Về phần mình, đại sứ Mỹ tại Saigòn Reinhardt cũng đánh đi bức điện số 4897 nhấn mạnh rằng hành động đơn phương của Trung hoa Dân quốc (tức Đài Loan) nhằm dẹp Trung hoa Cộng Sản trên đảo Woody (Phú Lâm) sẽ gây tổn thương quan hệ giữa Đài Loan và Sàigòn”.
Đề xuất liên kết Đài Laon và Saigòn dẫn đến đâu? Bức điện của ngoại trưởng Dulles trả lời:
“Đoạn 4. Vấn đề Hoàng Sa- Trường Sa (trên) đối với Bộ dường như minh họa cho việc thiếu các tiếp xúc thích ứng giữa hai chính phủ Đài Loan và Saigòn. Yêu cầu (các tòa đại sứ Mỹ) tại Saigòn và Đài Bắc thông báo với cac chính phủ liên quan trên rằng Mỹ xem việc Đài Loan và Saigòn tăng cường quan hệ cấp cao nhất là một tối ưu tiên của mình”. Ký tên Dulles. (8)

RƯỢU MAO ĐÀI 1972 VÀ HOÀNG SA 1974.

Năm 1956 là năm mà Trung Quốc còn bị Mỹ và “Thế giới Tự do”, trong đó có Đài Loan và Saigon, xem là “Trung Cộng”`cần phải chế ngự tuyệt đối. Thế cho nên, chỉ cần Saigòn “ho” là Mỹ đáp ứng ngay
Với thời gian, các chính phủ Mỹ có những thay đổi chính sách, từ chiến tranh Việt Nam đến quan hệ với Trung Quốc. Chuyến công du Trung Quốc đầu tiên của một Tổng thống Mỹ, Richard Nixon từ 21 đến 28/2/1972, với hình ảnh Nixon nâng chén rượu Mao Đài, đã là một bước ngoặc lịch sử. Gần hai năm sau, Hoàng Sa rơi vào tay Trung quốc, cho dù Saigòn có yêu cầu hạm đội 7 cứu viện. Còn Đài Loan, mà vào năm 1956 ấy còn là đồng minh của Mỹ cùng với Sàigòn, đã phải nhận nghị quyết 2758 ngày 25/10/1971, theo đó CHND Trung Hoa mới là đại diện chính thức tại Lien hiệp quốc, để khăn gói rời khỏi đây, như là một trong những điều kiên tiên quyết cho chuyến công du Trung Quốc của Nixon, dưới sự dàn xếp của Cố vấn Kissinger.
Câu chuyện, mà trợ lý phụ tá ngoại trưởng đặc tránh Viễn Đông Howard P.Jones tường thuật lại trong các bao cáo của mình tháng 6/1956 nêu trên, là một bằng cớ của mọt giai đoạn mà Hoàng Sa còn do chính quyền Sàigòn trấn giữ, hạm đội 7 bảo vệ, và người Trung Quốc mới chỉ thấp thoáng như những kẻ trộm đêm…Các ‘tác giả” của “đường lưỡi bò” còn chưa hoặc mới chào đời.

THIÊN TRIỀU.

---------------------------
1./ Department of State, Central Files, 790.022/6–1056. Top Secret. (Foreign Relations of the United States, 1955–1957 - Volume III, China, Document 186.)
2./ The First Taiwan Straits Crisis
3./ The Taiwan Strait Crisis of 1954-55 – by HI MATSUMOTO -2010
4./Memorandum for the Files, by the Deputy Assistant Secretary of State for Far Eastern Economic Affairs (Jones) [Washington ,] June 10, 1956.
5./ ANSWERS TO QUESTIONS UPON NOTICE - Former Japanese Islands: Sovereignty (Question No. 3670) - House of Representatives Hansard - 15 September 1971.
6./ Source: Department of State, Central Files, 790.022/6–1056. Top Secret.
7./ TQ chiếm đảo Phú Lâm , vào cuối tháng 12/1955, đầu tháng 12/1956.

8./ Foreign Relations of the United States, 1955–1957 Volume III, China, Document 187

18 tháng 11, 2010

Điểm lại “Hội thảo Biển Đông” với tướng hồi hưu Pháp - Daniel Schaeffer.


Trong số các nhà nghiên cứu tham dự Hội thảo, có ông Daniel Schaeffer, nguyên tuỳ viên quân sự Pháp tại Thái Lan, Việt Nam và Trung quốc. nay thuộc Trung tâm nghiên cứu châu Á 21 cùa Pháp.

THIÊN TRIỀU- Tôi muốn nêu lại với ông câu hỏi đã đặt ra cho GS Trung quốc Su Hao. Những hội thảo như thế này là để làm gì? Tranh luận giữa các học giả? Gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách? Giải thích vấn đề, làm rõ lập trường cho công chúng? Làm cho bớt hiểu lầm và thêm hiểu biết lẫn nhau?


-Daniel Schaeffer: Tôi nghĩ rằng vì cả bốn mục đích đó. Song cơ bản vẫn là những trao đổi trong hội thảo sẽ là cơ sở làm việc cho các nhà hoạch định chính sách các nước, hoặc trong ASEAN hay các tổ chức khác, cho phép họ có thể có cả những ý kiến mới. Điều quan trọng khác là để thế giới biết có những vấn đề trên vùng Biển này và những vấn đề đó là gì, từ đó mới có thể đi đến một sự phân chia công bằng các tài nguyên.

THIÊN TRIỀU: Số khách mời tham dự có là cân bằng hay không? Không quá thiên vị điều này, không quá chống điều kia? Do lẽ, có một hội nghị sau đó có ý kiến cho rằng đó là một cuộc “phục kích”…


-Daniel Schaeffer:Tôi nhận thấy rằng các nhà tổ chức hội thảo đã mời khách tham dự một cách rất cân bằng. Tôi cũng nói thêm rằng VN đã không mượn hội thảo này để đưa tối đa số tham luận viên của mình lên diễn đàn. Có những ý kiến của phe này hay phe kia, điều đó là bình thường. Song phải nhìn nhận là có nhiều ý kiến không đồng tình với một bên này hơn là bên kia.


THIÊN TRIỀU: Tại sao thế?

-Daniel Schaeffer: Bởi vì TQ đang bắt đầu làm cho thiên hạ lo âu khi nhất định quả quyết rằng Biển Đông là của họ. Ngay cả khi TQ đề nghị hợp tác kinh tế, tức là đã có một ý muốn hoà bình rồi đấy, thì đó vẫn là trong sách lược “vận dụng những mâu thuẫn” của họ, giống như vận dụng hai mặt âm/dương. Một mặt là lá bài hoà bình, mặt kia là lá bài đe doạ. Cần phải nhớ rằng không thể nào sửa đổi luật Biển của LHQ để cho Biển Đông trở thành của họ.

THIÊN TRIỀU: Trong bài tham luận của ông, ông có nhắc rằng Địa Trung Hải đã luôn là Địa Trung Hải, không ai đòi biến thành của riêng…


-Daniel Schaeffer: Trừ Mussolini trong thế chiến thứ nhì muốn biến thành biển riêng của nước Ý.


-THIÊN TRIỀU: Trở về với cách đây hơn 2000 năm khi người La Mã gọi Địa Trung Hải là “mare nostrum” (Biển của ta). Liệu xu hướng “biển của ta” này có lâu lâu lại quay trở lại hay không?


-Daniel Schaeffer: Trừ phi có mục đích là chế ngự tất cả, là bảo vệ một cách cực độ các yêu sách của mình. Đang có xu hướng muốn tạo thành những “ngoại lệ” cho Biển Đông, như bào rằng “đường lưỡi bò là không thể tranh cãi” . Nếu điều đó xảy ra, Công ước về luật biển của LHQ sẽ không còn ý nghĩa, vì như thế sẽ là tiền lệ cho những ngoại lệ khác ở khắp nơi.

THIÊN TRIỀU: Trong hội thảo, ông có đưa ý kiến rằng mỗi bên, VN và TQ hãy đưa ra mọi bằng cớ lịch sử, pháp lý…ra so với nhau một lần cho xong.


-Daniel Schaeffer: Về mặt lịch sử, vẫn chưa có gì là chung cuộc cả do lẽ vẫn chưa có một nghiên cứu nghiêm túc, đào sâu nào, các tài liệu đưa ra cho thấy ai đã là những người đầu tiên có mặt trên quần đảo Hoàng Sa. Vấn đề Trường Sa cũng thế. Thành ra, một khi tập hợp tài liệu lại được, cho một uỷ ban chuyên môn nghiên cứu, TQ, VN và cả Pháp. Do lẽ người Pháp đã từng đô hộ ở đây…từ tay triều đình An Nam, mới có thể đem ra mà so.
Trước đây, khi VN thương thuyết với TQ về biên giới trên đất liền, VN có hỏi xin Pháp các bản đồ thời thuộc địa. Pháp đã cung cấp cho cả VN lẫn TQ. Nhắc lại như thế để cho thấy rằng chúng tôi rất sòng phẳng, công bằng. Chừng nào mà chưa có một nghiên cứu như thế, cái gọi là “đường 9 đoạn’ hoàn toàn không có chút giá trị gì. Phải là những chứng cứ được công pháp quốc tế thừa nhận. Dẫu sao cũng có một luật được chấp nhận từ sau khi chế độ thực dân kết thúc, đó là qui tắc “uti possedetis” tức là các đường biên giới, sau khi độc lập, sẽ vẫn là như được vạch ra trước đó từ chế độ thực dân.

-THIÊN TRIỀU: Trong hội thảo, có ý kiến cho rằng ở TQ đang có một nhóm thế lực nào đó nắm công việc. Ông nghĩ như thề nào?


-Daniel Schaeffer. Trong mọi chế độ, luôn có những người phát biểu trong những thái cực. Từ cực hữu đến đối lập cực kỳ. Ngay cả trong các phong trào nhân văn cũng có những tiếng nói cực đoan. TQ cũng thế. Từ khi TQ trở thành một thế lực, xuất hiện những ý kiến cực đoan. Tôi nghĩ mỗi quốc gia đều có quyền tồn tại, và các láng giềng cần phải chấp nhận điều đó.


THIÊN TRIỀU: Trong hội thảo, một giáo sư TQ đã hùng hồn giới thiệu thái đô đấy trách nhiệm của chính phủ TQ trong vấn đề Biển Đông. Bản thân ông hiểu thông điệp ấy ra sao?


-Daniel Schaeffer: Tôi có nghe ông ấy phát biểu. Cũng như các đồng nghiệp khác của ông ấy. Việc họ luận thuyết cho chính phủ của họ là bình thường. Phải suy nghĩ về vấn đề này dựa trên nền tảng văn hoá của họ. Lý thuyết âm/dương, tận dụng các mặt mâu thuẫn. Đừng xem cuộc tập trận ba ngày sau phát biểu ôn hoà của ông Ôn Gia Bảo là mâu thuẫn với nhau mà đó là hai mặt bổ sung. Hãy xem “kinh tế thị trường kiểu TQ ”. Tất cả các nhà kiunh tế học phương Tây đều không hiểu nổi điều đó, cho đó là mâu thuẫn, vì thị trường, TQ là TQ. Nhưng người TQ đã cho hai điều mâu thuẫn “kết hôn” được với nhau (marier les contrastes) và chinh phục thế giới với cuộc ‘hôn nhân” đó. Hãy xem Hồng Kong nay là TQ, song hai chế độ. Đó chính là “kết hôn hai mâu thuẫn” với nhau…


THIÊN TRIỀU: Với những người quen tinh thần duy lý, thì đó là sự phi lý. Tôi quen gọi đó là tính hữu lý từ sự phi lý (la logique de l’illogique).


Daniel Schaeffer: Phải hiểu văn hoá về sự kết hợp các mâu thuẫn của họ mới hiểu được họ.


THIÊN TRIỀU

17 tháng 11, 2010

ĐIỂM LẠI "HỘI THẢO BIỂN ĐÔNG” VỚI GS SU HAO (TRUNG QUỐC)

Sáng thứ bảy 13/11, THIÊN TRIỀU đã gặp riêng môt diễn giả khá nổi bật trong Hội thảo khoa học về Biển Đông là Giáo sư Su Hao (Trung Quốc) để điểm lại ý nghĩa và kết quả của cuộc hội thảo lần thứ nhì về Biển Đông tổ chức ở Việt Nam. Có phải VN mượn hội thảo này để đả kích Trung Quốc?

-THIÊN TRIỀU: Thưa giáo sư Su Hao, Hội thảo về Biển Đông này là một dịp cho các nhà nghiên cứu trao đổi ý kiến với nhau. Tôi nghĩ rằng các ý kiến đó cũng đến tai người khác nữa. Tỉ như những nhà hoạch định chính sách và cả công chúng để giúp hiểu vấn đề đúng hơn và hiểu biết nhau hơn.

-GS Su Hao: Ông nói đúng. Hội thảo này rất ý nghĩa. Biển Đông là một điểm nóng của khu vực, là một vấn đề cũ (lâu đời) của khu vực, không chỉ giữa Trung quốc và Việt Nam. Đã có những diễn đàn chính thức khác như Diễn đàn ARF, Diễn đàn hợp tác an ninh, Diễn đàn Đông Á, các diễn đàn ngọai giao “kênh 2” (2nd track Diplomacy, còn gọi là “ngoại giao công dân”, THIÊN TRIỀU) tổ chức từ lâu ở Malaysia, Indonesia…Các bàn tròn an ninh khu vực khác. Hội thảo này do nuớc ông tổ chức là một mặt bằng mới để các học giả trao đổi ý kiến. Đây không phải là “kênh 2 ngoại giao”, cũng không phải chỉ gồm những nước liên quan đến vấn đề Biển Đông, mà là một mặt bằng đối thọai khác, rộng rãi hơn với những nước khác…

MỘT HỘI THẢO HỮU ÍCH CHO CÁC HỌC GIẢ TRUNG QUỐC.

-THIÊN TRIỀU: Một diễn đàn có qui mô thế giới…

GS Su Hao: Đúng thế. Có cả đại diện những nước khác nữa chứ không chỉ những nước chung quanh Biển Đông hay quanh châu Á - Thái bình duơng TQ quan tâm đến hội thảo này và do đó chúng tôi có mặt ở đây. Tôi cũng muốn nói rằng Biển Đông từ một hai năm nay trở thành một vấn đề khu vực nóng; nên cần có cơ hội trao đổi cái nhìn giữa các nước. Các nhà nghiên cứu cần trao đổi ý kiến với nhau để hiểu biết lẫn nhau hơn, và từ sự hiểu biết lẫn nhau đó có thể xây dựng niềm tin với nhau. Tôi nghĩ rằng đây là một mặt bằng có chức năng làm tránh những hiểu lầm, giảm đi những cảm nhận sai.

Kế đến, do lẽ đây là một diễn đàn quốc tế, nên có những ý kiến khác từ phương Tây, Mỹ, châu Âu. Trong quá khứ đã có những ý kiến từ phưong Tây về cái gọi là “sự nổi lên của Trung Quốc”, về cái gọi là thách thức, đe dọa “lợi ích quốc gia” đối với Mỹ chẳng hạn... Một số sự việc trong Biển Đông đã trở thành những cái gọi là “bằng chứng” đối với một số học giả phương Tây để cho rằng “sự nổi lên của Trung Quốc là một thách thức”. Thành ra, tôi nghĩ rằng diễn đàn này chính là một cơ hội để các học giả Trung Quốc phát biểu, bày tỏ cho thế giới quan điểm của mình, chúng tôi hiểu đất nước chúng tôi như thế nào, để giúp thế giới bên ngòai nhận biết thế nào là Trung Quốc đích thực, thái độ của Trung Quốc như thế nào, Trung Quốc xử lý mọi việc ra sao, kể cả vấn đề Biển Đông ra sao. Đây là dịp để các học giả Trung Quốc cho xã hội bên ngoài hiểu rằng Trung Quốc có một thái độ rất trách nhiệm trong vấn đề Biển Đông.

-THIÊN TRIỀU: Đó chính là thông điệp mạnh mẽ của ông trong hội thảo: Chính phủ Trung Quốc có một thái độ rất trách nhiệm.

GS Su Hao: Đúng vậy. Chúng tôi biết rõ chính phủ chúng tôi nghĩ gì, làm gì, ứng xử giải quyết vấn đề với tất cả trách nhiêm của mình, chứ không như các ý kiến đổ tội chúng tôi của phưong Tây.Trong hội thảo này, các học giả Trung Quốc, qua các phát biểu của mình đã cho thấy Trung Quốc thực sự nghĩ gì, hành động ra sao, rằng Trung Quốc có khả năng có một thái độ rất trách nhiệm đối với khu vực, đối với Biển Đông. Chứ Trung Quốc không hề có thái độ bạo ngược, trái lại chỉ muốn giữ ổn định và hòa bình cả trong Thái Bình duơng lẫn trong Biển Đông. Đó chính là suy nghĩ đích thực của chúng tôi. Di sản (tinh thần) của chúng tôi là duy trì ổn định và hòa bình ở Biển Đông và Thái bình duơng. Chúng tôi không hề có ý định gọi là « sử dụng phương thức quân sự » để xử lý vấn đề. Thành ra, ở hội thảo này chúng tôi đã làm rõ những vấn đề đó. Phuơng Tây cứ cho rằng Trung Quốc có « lợi ích » trên Biển Đông, trong khi đó Trung Quốc đã không hề có tuyên bố gì gọi là « lợi ích (cốt lõi) như thế cả! Thành ra, chúng tôi muốn truyền thông đại chúng VN và quốc tế nhận thức đúng về cái gọi là “lợi ích” (cốt lõi) này.

-THIÊN TRIỀU: Ông có nghĩ rằng thông điệp của ông đã được nghe và hiểu rõ ở hội thảo này?

GS Su Hao:Họ hiểu chứ. Thành ra, Trung Quốc tham dự hội thảo này là rất tốt để cho phưong Tây và thế giới bên ngòai có thêm thông tin và cảm nhận đúng về một Trung Quốc thực sự. Điều đó thật là tốt!

AI ĐANG LÀM GÌ Ở BẮC KINH ?

-THIÊN TRIỀU : Có ý kiến tham luận cho rằng ở Trung Quốc hiện đang có những dị biệt trong giới lãnh đạo. Tỉ như giới quân sự nay có thế lực hơn, họ có những quan tâm riêng của họ, có những lợi ích riêng của họ, họ đang diễu võ giương oai. Câu hỏi đặt ra là: ở Trung Quốc, ai đang « nắm công việc »? Ông còn nhớ ý kiến của nhà tham luận đó chứ ?

-GS Su Hao: Của một nhà nghiên cứu phương Tây[1]. Họ nói như thế để nhấn mạnh rằng Trung Quốc đang xây dựng quân sự, để chỉ trích rằng Trung Quốc có một thái độ xâm luợc. Qua hội thảo này, các học giả chúng tôi cho thấy việc một cuờng quốc có những họat động quân sự là bình thuờng. Một hiện tượng rất bình thuờng. Trung Quốc đang hiện đại hóa, kể cả quân sự. Nước nào cũng thế, kể cả VN.

-THIÊN TRIỀU : Đúng thế, kể cả VN...

Nghe đến đây, Ren Yuanzhe ,một tiến sĩ, giảng viên đại học ngọai giao Trung Quốc, trợ lý của GS Su Hao vội ghi chép vào trong sổ tay.

-GS Su Hao lập lại: VN cũng thế phải không ? Đúng không ?

-THIÊN TRIỀU : Đúng vậy.

Ren Yuanzhe tiếp tục ghi chép trả lời của THIÊN TRIỀU.

-GS SU Hao : So với phát triển kinh tế của Trung Quốc, thì phát triển quân sự như thế là còn thấp, nên hiện đại hóa quân sự là bỉnh thuờng, rất bình thuờng thôi. Trung Quốc đang đối diện nhiều thách thức an ninh quốc gia. Như vấn đề Đài Loan. Đất nuớc Trung Quốc còn bị chia cắt, nhiệm vụ tái thống nhất vẫn còn đó. Đài Loan vẫn còn được trợ giúp từ bên ngoài, được Mỹ bán vũ khí. Mỹ bỏ qua một số cam kết vể vấn đề Đài Loan. Thành ra, Trung Quốc cần tăng cường khả năng quân sự.

THẾ NÀO LÀ HỮU NGHỊ ?

-THIÊN TRIỀU : Gần đây tôi đang viết một bài có liên quan đến hai sự kiện mà không biết kết luận ra sao. Sự kiện thứ nhất là hôm 29/10, Thủ tướng các ông, Ôn Gia Bảo, theo AFP tường thuật, đã tuyên bố Trung Quốc sẽ hòa bình hữu nghị trên Biển Đông với các nước.Ba ngày sau, hôm 2/11 Global Times, Xinhua net, loan tin Trung Quốc tập trận tấn công với 1800 lính thủy đánh bộ cùng 100 tàu chiến, tầu ngầm các lọai ở Biển Đông. Nhật báo Global Times các ông đăng lại phát biểu của một quan chức các ông cho rằng « tập trận đó là để cho thấy sức mạnh của lính thủy đánh bộ Trung Quốc », rằng « cuộc tập trận này là để cảnh cáo các nước nào muôn tập trận với nước khác ». Theo ông, cuộc tập trận đó chính xác nghĩa là gì ?

GS Su Hao : Ngày 2/11 à ? Tôi không biết tin này. Cho dù sao đi nữa, tôi cũng cho rằng đó là chuyện bình thuờng cả. Trước hết, môt cuờng quốc như Trung Quốc cần tập trận. Nước nào cũng thế,VN cũng thế phải không ? Kế đến, chúng tôi cần tập trận như thế để cho một số thế lực bên ngoài thấy sức lực của chúng tôi. Đây là liên quan đến an ninh quốc gia chúng tôi, đến eo biển Đài Loan.Tiếp nữa, năm nay, như ông biết, có nhiều vấn đề. Ở Đông Bắc Á chẳng hạn, Mỹ tập trận với đồng minh Nam Hàn, Nhật Bản.

THIÊN TRIỀU : Tôi muốn thu hút sự chú ý của ông đến một số chi tiết sau. Thứ nhất là vị trí của cuộc tập trận là trên Biển Đông gần Trường Sa. Thứ nhì là bản chất của cuộc tập trận. Đây là một cuộc tập đổ bộ tấn công chứ không phải tập phòng thủ. Tập trận cũng có dăm bẩy đường tập trận. Với 1800 lính thùy đánh bộ tập đổ bộ trên Biển Đông như thế, cuộc tập trận này chính là chuyện gây « hiểu lầm » đấy. Ông nói đến Mỹ, đến Nhật, nhưng láng giềng gần sát nhất cuộc tập trận đổ bộ này lại là Việt Nam!

GS Su Hao : Tôi nghĩ rằng, nếu quả thật là như thế, thì Trung Quốc cũng không muốn nhắm đến VN. VN không là mục tiêu của Trung Quốc. Hai nước chúng ta hữu nghị mà. Chúng tôi không nhắm VN như là một mục tiêu quân sự. Chúng tôi tập trận ở Nam Hải nhưng thật ra nhắm đến Biển Đông Bắc. Ở đó, tình hình không cân xứng. Mỹ và liên minh của họ rất mạnh...

THIÊN TRIỀU : GS Su Hao, tôi đọc rất nhiều bài xã luận của ông trên Global Times. Ông là nhà xã luận ôn hòa nhất.Tôi muốn nhờ ông giải thích giùm tôi bài báo này đăng trong mục « Diễn đàn » tờ Global Times ấy. Tựa đề bài báo là "Trung Quốc cần hủy họai nền kinh tế VN để tránh một cuộc chiến tranh thực sự” (China needs to destroy vietnam's economy to avoid real war). Bài này mới đăng hôm 8/10, cách đây không lâu, do Steven Guo biên tập. Bài này được trình bày rất đầy ý nghĩa với hai bức ảnh xe cộ như nêm ở Bắc Kinh tương phản với xe đạp ở Hà Nội.

GS Su Hao : Tờ báo này không phải là một tờ báo nghiêm túc. Họ thích câu khách.

THIÊN TRIỀU : Tôi vẫn tưởng đó là một tờ báo nghiêm túc vì ông, một học gỉa nghiêm túc, thường có bài trên đó. Ông có nghĩ rằng những bài báo như thế có ích gì cho điều gọi là tình hữu nghị hai nước ? Tôi có thể đoan chắc với ông rằng không thề thấy một bài báo nào như thế trên báo chí VN.

GS Su Hao : Đó là một tờ báo độc lập, họ muốn đăng gì thì đăng. Không cấm được.

THIÊN TRIỀU : Tôi ngạc nhiên khi hay biết ở Trung Quốc lại tự do báo chí đến thế. Nhờ ông nói lại với Global Times rằng những bài báo như thế không hữu nghị chút nào. Nói đến hữu nghị, ông có mở truyền hình trong phòng khách sạn của ông không? Ông đếm được bao nhiêu đài của Trung Quốc ?

GS Su Hao : Có kênh 4 (CCTV4).

THIÊN TRIỀU : Ông hãy đếm kỹ nữa đi, còn có ít nhất 4,5 đài nữa, Quảng Đông, Phượng Hoàng vân vân... Ông có biết chúng tôi có 64 tỉnh thành và mỗi tỉnh thành có ít nhất một đài truyền hình. Và đài nào cũng chiếu phim Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng không ở một nước nào khác trên thế giới này, lại có một môi trường hữu nghị với văn hóa Trung Quốc như ở VN. Thành ra, tôi nhắc lại, tôi không nghĩ rằng những bài báo như thế lại là có ích cho hai nước.

GS Su Hao : Tôi có thể giữ bài báo này ?

THIÊN TRIỀU : Xin mời ông. Tôi in ra để ông đọc vì quan tâm đến tình hữu nghị hai nước ấy mà.

-----------------------
[1] Leszek Buszynski của Đại học Quốc gia Úc. Xem “Hội thảo quốc tế về Biển Đông: Biển Đông trở thành vấn đề quốc tế”, TUỔI TRẺ Thứ Sáu, 12/11/2010.